Articles by "CULTURE"

Hiển thị các bài đăng có nhãn CULTURE. Hiển thị tất cả bài đăng

Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần là con đường tắt dẫn văn hóa đến ngày "mạt".

Một xã hội khói hương

Nói ra thì bảo báng bổ, nhưng cứ thử nhìn mà xem, tháng Giêng năm nào, người ta cũng thấy rõ ràng nhất, đầy đủ nhất cái sự mê tín đến khủng khiếp của người Việt.

Một xã hội "khói hương", với hàng chục ngàn, hàng trăm ngàn người chen chân mang vác thủ lợn, gà luộc, vàng mã, đủ thứ lễ lạt cồng kềnh và cầu kỳ khắp các chùa chiền, miếu, phủ; từ nơi xa xôi hẻo lánh đến thị thành nhộn nhịp; từ đầu tuần tới cuối tuần, dai dẳng hết cả tháng Giêng, tháng Hai, có nơi còn vắt sang tháng Ba. 

Đâu đâu cũng thấy những người là người, nghi ngút khói hương, sì sụp khấn vái, cầu ước.

Xa xôi gì đâu, mới cách đây mấy ngày, dư luận khiếp đảm chứng kiến một cuộc hỗn chiến dã man bằng nắm đấm, gây gộc, hung hăng và máu để cướp cho bằng được quả "phết", tại Phú Thọ. Vì tương truyền, có quả ấy trong nhà, cả năm sẽ may mắn, ăn nên làm ra, rồi cả …đẻ con trai. 

Tối hôm sau, hàng chục nghìn người xếp hàng dài cả cây số, tràn khắp các con đường, ngay trục giao thông trung tâm của Thủ đô, vái vọng xa tít tắp vào ngôi chùa Phúc Khánh vì đặt niềm tin vào sự linh thiêng của nơi này.

Biển người chen chân đi lễ đầu năm ở chùa Phúc Khánh.

Cũng đêm đó, ở đền Trần Nam Định, hơn vạn người chen lấn, giẫm đạp, nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà. Lộc ấy, dù được cướp theo cách báng bổ nhất, cũng được nâng niu như thứ bùa hộ mệnh cho lòng tin mãnh liệt vào đường công danh, thăng quan tiến chức.

Rồi các phủ, các đền, chùa, miếu mạo…cứ sau Tết là tấp nập người ra kẻ vào, khổ sở chen lấn, sớ cầu xin nào cũng dài dằng dặc ti tỉ ước mong.

Thôi thì, cầu mong những điều may mắn, tốt đẹp, an vui trong ngày đầu xuân năm mới vốn là truyền thống tốt đẹp của người Việt bao đời. Những địa danh tâm linh ấy, cũng được dựng lên từ ý nghĩa văn hóa và lịch sử đầy nhân văn của cha ông.

Nhưng thử hỏi, bao nhiêu người trong số các khách thập phương xa gần kia, mang cái tâm hướng thiện và cầu bình an thực sự đến với những nơi linh thiêng. Hay nhiều hơn thế, những kẻ đang hùng hổ cướp lộc và len lén mua khói bán nhang, mua thần bán thánh đến cầu khấn những điều biểu lộ sự tham lam vô độ của lòng người.

Nhảy bổ lên cả lư đồng, bàn thờ để cướp bằng được một chút lộc mang về nhà tại đền Trần (Ảnh: Zing)

Mùi của khói hương là mùi của bình an, của tĩnh tại, của thời khắc thiêng liêng, của ước vọng tốt đẹp và hướng thiện. Thứ mùi ấy, nhất định không thể tồn tại giữa xô bồ và toan tính.

Từ bao giờ, niềm tin của con người được "gá" vào thánh thần chứ không phải giữa con người với con người, giữa con người với ngay chính xã hội mà chúng ta đang sống, đang tồn tại hiển nhiên như vậy?

Cả một xã hội khấn vái, ước ao, một xã hội biến mình thành nô lệ của hương khói và thánh thần.

Dấu hiệu "mạt vận" của văn hóa 

Văn hóa, chắc rồi cũng đến hồi "mạt vận", khó mà ngóc đầu lên được, khi thay vì ngẩng cao đầu mà dũng khí, thì cả biển người lại sống bằng quỳ lạy dập đầu và đi "xin" giàu có, vinh hiển, con cái, công danh sự nghiệp… từ các vị thánh thần. Quỳ lạy xong nhảy bổ lên đầu người khác, lên cả bàn thờ để cướp hương hoa vàng lộc, "mạt" ở đấy chứ đâu.

Không "mạt vận" sao được, khi sự mê tín cực đoan đã đẩy con người vào sự ngu muội và làm trỗi dậy tính dã man nhất, ác độc nhất, hình thành cả một thế hệ hung bạo.

Vung gậy đánh gục cái người đang là anh, em, chú, bác gần gũi đó để mang bằng được cái may, cái lộc về nhà là cầu an hay là biểu hiện của sự phi nhân tính đến lạnh sống lưng?

Sự hung hăng dã man tại lễ hội cướp phết Hiền Quan (Ảnh: Việt Linh)

Rồi từ sự hung hăng bạo ngược được "tôi rèn" ở nơi làng xã ấy, sẽ chẳng còn lạ khi người ta ra ngoài kia, lạnh lùng chém chết cả một gia đình vì mấy đồng bạc lẻ, xuống tay đâm chết một mạng người ngay trên bàn nhậu dễ dàng đến kinh sợ.

Xã hội khói hương dẫn văn hóa đi tắt đến ngày "mạt", ngắn ngủi lắm.

VTC News
http://vtc.vn/xa-hoi-lam-no-le-cho-thanh-than-va-dau-hieu-mat-van-cua-van-hoa.2.596123.htm



Khi tôi nói tấm hình này phản ánh thực trạng xã hội ngày nay, chắc chắn sẽ có nhiều người phản đối, vì cho rằng đây là một hiện tượng cá biệt, không phải là phổ biến trong xã hội ta.

Đúng, tấm hình này ghi nhận một sự việc cá biệt. Cá biệt vì chắc khó có ai chụp được một tấm hình khác tương tự: một người đàn ông mặc veston, lái xe hơi Civic, giữa đường phố thủ đô, ngay ngã tư, vạch quần đái vào dải phân cách, chỉ cách những người đi đường khác cỡ nửa mét.

Nhưng nó lại phản ánh một thực trạng xã hội ngày nay, đó là nền tảng văn hóa thấp kém của một bộ phận không nhỏ những người có tiền, mà chúng ta hay gọi là những người thành đạt. Cũng chính vì như vậy, nó được lan truyền với một tốc độ chóng mặt, và gây ra một cơn bão bàn luận trên mạng xã hội.

Có người bảo sự bất xứng giữa văn hóa và kinh tế là bệnh của phát triển nóng. Tôi thì không nghĩ như vậy. Đất nước ta càng ngày càng tụt hậu so với các nước xung quanh. Rõ ràng là các nước xung quanh phát triển “nóng” hơn chúng ta chứ. 50 năm trước, Singapore là thế nào so với chúng ta? Bây giờ, họ ở đâu so với chúng ta? Họ phát triển “nóng” hơn chục ta cả mấy chục lần đấy chứ.

Gần như ai trong chúng ta cũng phải học về con người mới XHCN, về tư tưởng Hồ Chí Minh. Tôi dốt về môn này, nhưng chắc chắn rằng, không tài liệu nào, không giáo trình nào dạy chúng ta cái thứ văn hóa tôn thờ bản năng, bất chấp xã hội và đồng loại như vậy. Thế thì tại sao một xã hội trong một thời đại phát triển rực rỡ lại có những người thành đạt về kinh tế mà văn hóa lại thấp kém như vậy?

Con người ta học hỏi từ nhiều nguồn, từ sách báo, từ thực tế gia đình, xã hội, từ tấm gương bạn bè, tấm gương người thầy. Khi những người rao giảng đạo đức XHCN, rao giảng tư tưởng Hồ Chí Minh sống không đúng với những gì họ rao giảng, họ tạo ra một thế hệ tôn thờ những điều ngược lại, đó là đề cao và phục tùng bản năng, tôn thờ sự giả dối, đó là sống vì mình, không cần quan tâm đến người khác.

Làm sao mà một người ăn cắp tiền thuế của dân lại có thể thuyết phục người khác tin rằng mình sống theo “tấm gương Bác Hồ vĩ đại”? Làm sao mà một con người luôn tuôn ra những điều dối trá lại có thể thuyết phục mọi người, rằng mình là hiện thân của con người mới XHCN với bao nhiều phẩm cách tốt đẹp mà anh ta mô tả? Khi những người rao giảng đạo đức làm trái với những gì họ rao giảng, các giá trị xã hội sẽ bị đảo lộn. Khi đó, làm sao mà không có những con người “thành đạt” bất chấp xã hội như cái anh chàng trong tấm hình kia. Không có mới là lạ.

Từ góc độ này, mơ ước về cái nghèo bình yên có cái lí nhất định của nó. Tuy nhiên, người dân thì chẳng ai muốn nghèo. Ai cũng biết nghèo đi đôi với hèn, với bất ổn, chứ làm sao mà nghèo lại đi đôi với bình yên được. Người dân muốn trở nên giàu có, muốn đất nước giàu mạnh, muốn xã hội thực sự văn minh. Rõ ràng, mơ ước về một xã hội nghèo mà bình yên chỉ thể hiện sự bất lực của bộ máy quản lí trước thực trạng xã hội, bộc lộ sự yếu kém về nhận thức và tư duy kềm hãm sự phát triển của xã hội.

Nếu cứ như thế này, sự việc trong tấm hình mà chúng ta đang xem sẽ nhanh chóng không còn là cá biệt nữa.


Bác sĩ Võ Xuân Sơn
https://www.facebook.com/photo.php?fbid=623587561131707&set=a.227130467444087.1073741825.100004414059376&type=3&theater

Cùng với thời gian, văn hóa cà phê dường như đã trở thành một nét văn hóa đặc trưng và tiêu biểu cho mỗi quốc gia, dân tộc. Từ xưa, cà phê được biết đến như một thức uống thân thiết, gắn bó không thể thiếu của nhiều người. Nó như một người bạn tâm giao hay một liều thuốc tinh thần hữu hiệu để giảm stress, căng thẳng và xua tan mệt mỏi cũng như đầy lùi giấc ngủ. Với mỗi quốc gia, với từng nét đặc thù văn hóa, truyền thống sinh hoạt, ăn uống khác nhau sẽ có những cách thưởng thức cà phê đặc sắc khác nhau, trong đó có văn hóa cà phê Ý.

Một cái nôi văn hóa cà phê lâu đời

Và trong đó, Ý là một trong những đất nước góp phần đưa tên tuổi cà phê đến gần với người tiêu dùng khắp các châu. Không chỉ riêng cà phê mà các sản phẩm khác như kẹo cà phê, bánh cà phê… đã góp phần nâng tầm thương hiệu cà phê nước Ý như hiện nay. Những hạt cà phê đầu tiên xuất hiện tại Ý là vào năm 1615 thông qua những gánh hàng rong bán nước cà phê cùng với nước chanh vắt. Và khi quán cà phê đầu tiên được mở tại Venice vào những năm 1645 thì Ý đã thực sự được biết đến như một cái nôi lâu đời của văn hóa cà phê.

Espresso - hương vị cà phê đặc trưng của Ý

Nhờ vào sự pha trộn Arabica với Robusta hay chỉ sử dụng hạt Arabica đã tạo nên hương vị đặc trưng không thể nhầm lẫn khi nhắc đến cà phê Ý. Màu nâu cánh dán, không dầu hoặc ít dầu là sự khác biệt đặc trưng có thể nhận thấy giữa cà phê Ý và các loại cà phê khác. Từ những hạt cà phê ngon sẽ được đem đi rang và ướp hương theo bí quyết gia truyền của người Ý để có thể tạo ra được những hương vị cà phê đặc trưng cho văn hóa cà phê ở Ý.

Nhắc đến cà phê Ý không thể không nhắc tới Espresso và Capuchino, đặc biệt là đối với "dân chơi cà phê thứ thiệt". Espresso có nghĩa là “làm thật nhanh” - nghĩa là nước sôi chảy nhanh, mạnh tạo nên một lớp cà phê xuống tách cà phê hâm nóng sau khi qua một màng lọc. Còn Cappuccino lại bao gồm cà phê đậm Espresso ở dưới và lớp sữa bọt barista dày ở trên. Một tách Cappuccino thông thường sẽ được rắc thêm một ít bột sô-cô-la hay bột quế để tăng mùi thơm đặc trưng.

Cà phê chỉ dành cho bữa sáng

Thói quen uống cà phê vào buổi sáng ở Ý

Người Ý xem cà phê như một thức uống không thể thiếu hàng ngày, nhưng điều đặc biệt ở đây là họ chỉ uống cà phê khi vừa ăn bữa sáng và không uống cà phê khi ăn trưa, ăn tối. Với họ, cà phê như một thức uống để bắt đầu một ngày mới tràn đầy sinh lực. Đồng thời, sau khi được nạp năng lượng đầy đủ thì lượng axit có trong cà phê sẽ giúp làm tăng sự bài tiết cho hệ tiêu hóa. Ngoài ra, người Ý còn có một thói quen đặc biệt hơn là không bao giờ uống Capuchino, cà phê sữa vào buổi sáng và sau bữa trưa.

Uống cà phê ở Ý chỉ đơn thuần là uống cà phê đen mà không cho thêm bất cứ thứ gì từ sữa, bạc hà, ca cao... Đồng thời, bạn nên chọn cách đứng uống vì sẽ giúp bạn tiết kiệm được 3 – 4 lần giá một ly cà phê, nhất là Capuchino. Và hãy nên gọi là cà phê thay vì gọi Espresso, để có thể cảm nhận được tận sâu bên trong mùi vị thuần khiết có một không hai của đất nước có hình như chiếc ủng này.

Hễ bước chân vào quán là nhận ngay phiếu biên nhận

Chắc có lẽ, rất nhiều người sẽ rất kinh ngạc và cho rằng đây là một phong tục không được "lịch sự" ở các quán cà phê tại Ý. Bởi ngay khi bước chân vào quán cà phê, bất kì là quán cà phê nhỏ hay lớn, điều đầu tiền mà bạn sẽ phải đến là quầy thu tiền để thanh toán tiền cà phê. Tất nhiên sau đó, bạn sẽ nhận ngay một phiếu biên nhận và bạn sẽ được phục vụ theo theo đúng những gì ghi trên phiếu này ngay tại bàn của bạn. Việc làm này xuất phát từ cách quản lý trốn thuế của các quan chức chính phủ Ý đối với các hình thức kinh doanh cà phê tại đây. Vì vậy, nếu tìm hiểu trước về văn hóa cà phê Ý, bạn sẽ không ngỡ ngàng và lạ lẫm với phong tục độc đáo này. 

Uống cà phê "tốc độ" mới là phong cách của người Ý

Đối với nhiều người, thưởng thức cà phê là thưởng thức Trà đạo, là nhâm nhi từng giọt cà phê phin từ từ nhỏ giọt và đó mới đúng là dân sành cà phê. Nhưng ở đất nước này, để gọi là người biết thưởng thức cà phê thì phải uống một cách "tốc độ" đó mới là cách uống cà phê của người Ý. Nếu không, bạn sẽ không theo kịp cách uống của dân bản địa ở đây vì với họ, cà phê là "thật nhanh và thật ngon".

Có thể nói rằng, đối với nước Ý nói riêng hay nhiều nước khác trên thế giới nói chung, văn hóa cà phê chính là văn hóa ẩm thực đặc trưng không thể thiếu đối với đất nước và con người nơi đây. Hãy thử một lần đến với nước Ý thân yêu để được tự mình thưởng thức những ly cà phê thuần chất, mang đậm bản sắc văn hóa của cả một dân tộc, các bạn nhé!

Viết bởi PurioCafe







Mới rồi nghe Thủ tướng Dũng nhắc đến quan hệ Việt Trung đại ý là mối quan hệ viển vông, tôi thấy sao mà ông dùng từ đắt thế. Rất có thể người Việt ta toàn đi mây về gió, từ tư duy phát triển, chiến lược quốc gia, từ cách tìm bạn, đồng minh, đến mua súng, máy bay SU, tầu ngầm kilo để bảo vệ đất nước, rồi nhìn chỗ nào cũng thấy kẻ thù như Đông Ki Sốt nhìn cối xay gió…nên mới khổ thế này.

Hôm qua, nhà có mấy ông khách tứ phương tới chơi. Chả hiểu rượu vào lời ra thế nào mà quay sang bàn về tính cách người Việt. Một ông hỏi, người Việt có tính cách gì rõ nhất?

Trời, kể hết thế nào được: khôn vặt, láu cá, tâm lý đám đông, ưa nịnh… Nhưng mà bên Nga, Mỹ hay ở đảo Solomon hẻo lánh đều có tính cách đó, không riêng gì người Việt.

Vậy, các anh nghĩ gì về tính sỹ diện. Uh, rất có thể.

Sỹ diện người Việt, kiên nhẫn người Mỹ

Anh kể một chuyện khá hài. Chả là anh xin cho ông bố vợ sang Mỹ chơi, làm cái thư mời gửi sứ quán Mỹ. Ông cụ ra Lãnh sự Mỹ để phỏng vấn, nộp 150$, đau hết cơ quan đoàn thể, họ hỏi mỗi một câu “Ai tài trợ cho cụ đi?”. “Con rể tôi, nó viết trong giấy ấy”. “Viết là một chuyện chứng minh là chuyện khác. Cảm ơn cụ, hẹn khi khác”.

Của đau con xót, mất 3 triệu trong có 1 phút, cụ cáu quá “Này tôi nói cho anh biết nhé, cho thì cho không cho thì thôi, người Việt từng thắng Mỹ đó. Đừng có mà sỹ diện”

Ông con rể bên này nghe tin suýt ngất. Sỹ gì không sỹ, sỹ cái vụ thắng Mỹ mới khổ. Mình xin vào Mỹ mà cứ làm như bố người ta không bằng. Có khi anh phỏng vấn lại tin Mỹ thắng Việt Nam còn khổ hơn.

Thằng con nhờ vả nghị sỹ nào đó can thiệp, cuối cùng cụ vẫn được sang chơi. Cho đi khắp nơi, cụ gật gù, nước địch thế mà cũng văn minh, đâu ra đấy. Nhưng mà thằng Mỹ mạnh thế này mà mình thắng mới tự hào. Cu con rể van như tế sao, thôi, bố nói tiếng Việt khe khẽ thôi nhé.

Nhớ lần cụ Lê Khả Phiêu đón Bill Clinton tại dinh Tổng Bí thư cách đây 14 năm (2000). Lẽ ra tiếp khách cựu thù thì nên quên quá khứ, hướng đến tương lai, cốt để hợp tác có lợi cho cả hai, chả hiểu nghĩ thế nào, cụ nói toẹt vào mặt Bill Clinton, Mỹ là đế quốc xâm lược.

“Căn nguyên cuộc kháng chiến chống xâm lược của chúng tôi là từ đâu? Sâu xa là từ khi chủ nghĩa đế quốc đi đánh chiếm thuộc địa. Nước Việt Nam có đem quân đi đánh Hoa Kỳ đâu mà Hoa Kỳ lại đem quân sang đánh Việt Nam?”

Rồi cụ Phiêu dạy Bill tiếp “…Hơn 30 năm chiến tranh, 19 năm bị cấm vận, gặp vô vàn khó khăn, thách thức, nhưng Chủ nghĩa Xã hội ở Việt Nam vẫn tồn tại, vẫn phát triển và nhất định sẽ phát triển.

Tôi được mời đi thăm Pháp, Italia và Cộng đồng châu Âu, tôi cũng nói như vậy. Bà Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ trong một lần gặp tôi có hỏi: Chủ nghĩa Xã hội có tồn tại được không? Tôi nói: Không những tồn tại mà Chủ nghĩa Xã hội sẽ tiếp tục phát triển thắng lợi.

Về đối ngoại, Việt Nam chúng tôi muốn là bạn với tất cả các dân tộc, các quốc gia trên thế giới, cùng phấn đấu vì hòa bình, độc lập, hữu nghị và phát triển, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi. Chúng tôi theo đuổi một đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, chúng tôi không đóng cửa. Việc ký Hiệp định thương mại Việt Nam- Hoa Kỳ chính là cũng nằm trong đường lối đó. Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với gần 170 nước, quan hệ thương mại với hơn 150 nước, Đảng chúng tôi có quan hệ với hơn 180 đảng Cộng sản, cánh tả, đảng cầm quyền.

Dù sau này, Ngài bàn giao nhiệm vụ cho tổng thống mới thì tôi vẫn xin mời Ngài và gia đình sang thăm lại Việt Nam.

Chúc Ngài, Cụ bà, Phu nhân và cháu gái Chelsea dồi dào sức khỏe và hạnh phúc.”

Clinton nghe xong chẳng hiểu vui hay buồn. Nhưng ông vẫn giữ lời hứa, thăm Việt Nam vài lần sau khi về vườn, nàng Hillary quay lại Hà Nội trong vai Ngoại trưởng. Chả hiểu hai ông bà có thăm lại cụ Phiêu không.

Sau này là bao nhiêu chuyện nhân quyền, tự do dân chủ, TPP, hợp tác…dù bao khó khăn, quan hệ hai nước vẫn tốt dần lên. 16 ngàn sinh viên Việt Nam đang du học tại Mỹ đủ nói lên điều gì.

Bây giờ CNXH đang long đong lật đật giữa biển Đông với “hai dòng thác cách mạng Putin và Tập Cận Bình” nhằm bóp chết Việt Nam, 180 đảng CS kia đi đâu hết, người Mỹ lại chìa tay, có cần giúp không.

Lắp ghép các sự kiện, khâm phục thay sự kiên nhẫn của người Mỹ đối với tính sỹ của người Việt.

Viển vông …xứ Việt

Nghe chuyện anh bạn, cả bọn cười vui nhưng trong lòng buồn, nhất là trong bối cảnh Nga-Trung bắt tay, định làm gỏi Ukraine và Việt Nam, nhằm dạy cho Mỹ một bài học về ứng xử, đúng kiểu… cụ Lê Khả Phiêu.

Rồi anh hỏi, dân mình có viển vông không. Oh, đúng quá, Thủ tướng vừa nhắc đến quan hệ Việt Trung “Việt Nam luôn mong muốn có hòa bình, hữu nghị nhưng phải trên cơ sở bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền, sự toàn vẹn lãnh thổ, vùng biển, và nhất định không chấp nhận đánh đổi điều thiêng liêng này để nhận lấy một thứ hòa bình, hữu nghị viển vông, lệ thuộc nào đó”.

Từ xưa tới nay, tôi chẳng bao giờ đọc bài của Thủ tướng từ đầu đến cuối. Lần này cũng thế, nhưng tôi thích chữ “viển vông”, mà ông dùng rất chuẩn.

Hữu nghị viển vông, đại cục viển vông, 16 chữ vàng, 4 tốt viển vông, ngay cả CNXH cũng viển vông nên TBT mới thở dài “100 năm nữa chưa chắc đã thành công”. Thế mà từ ông cao nhất đến cụ kéo xích lô tin sái cổ. Viển vông từ đó mà ra. Dân góp ý, các bố mang gông tới liền.

Trí thức du học Liên Xô tin Nga, vũ khí Nga, tư tưởng Nga, sức mạnh Nga bảo vệ Việt Nam, một niềm tin viển vông, dù thời đi học chỉ ăn cá hộp tanh lòm với mì sợi, bánh mỳ đen phết bơ.

Đó là một tính cách đặc trưng của người Việt, không thực tế, sống trong hão huyền, tin người, thành ra cái “viển vông” 16 chữ vàng, 4 tốt, văn hóa Nga vĩ đại, vũ khí nhất thế giới…làm hại cả đất nước.

Thế hệ U50-90 thích Đông Ki Sốt (Don Quixote de la Mancha – Đôn Ki-hô-tê xứ Man-cha) “Chiến với cối xay gió”. Đây là nhân vật ham mê phiêu lưu, muốn trở thành hiệp sĩ trừ gian diệt bạo, cứu người lương thiện. Y rất dũng cảm “quyết quét sạch sự xấu xa khỏi mặt đất, dũng cảm tấn công địch, quyết thắng kẻ thù, không rên rỉ, dù ruột có lòi ra ngoài”.

Chỉ có điều, kẻ thù của Đông Ki Sốt là cối xay gió, vì thế nhân vật này trở thành viển vông nhất trong sách vớ.

Nghe các bạn bàn về thời thế, tôi cứ nghĩ thầm, hay là do trẻ xứ mình đọc Đông Ki Sốt quá nhiều nên bị nhiễm tính sỹ diện, thích chuyện mây gió.

Bao giờ từ dân tới quan, sống và tư duy thực tế một chút, mới mong nước Việt mạnh lên.

Theo Blog Hiệu Minh – 24/5/2014


Mẹ Nấm
Theo Menam's blog

Hôm qua trên khắp các mặt báo tràn ngập thông tin về việc hai cô bảo mẫu ở Thủ Đức (Sài Gòn) bạo hành trẻ mầm non.

Các phóng viên báo Tuổi Trẻ đã kiên trì theo dõi khá lâu để có một đoạn phóng sự khiến dư luận phẫn nộ.

Trên mạng xã hội hàng loạt status và comment đòi phải trừng trị hai bảo mẫu kia thật nghiêm minh.

Phản ứng thường thấy của những người lớn khi trẻ con bị bạo hành đó là đòi đánh đập, xé xác, bắt những con người dã man kia phải hứng chịu những hình phạt như họ đã làm với con trẻ.

Phản ứng khác hơn một chút có người đưa ra giải pháp khác là nên đưa con đến các nhà trẻ tốt hơn, tin tưởng hơn với giá cao hơn.

Vấn đề chúng ta cần bình tĩnh xem xét nghiêm túc rằng đây không phải là lần đầu tiên vấn nạn trẻ mầm non bị bạo hành nhức nhối trên mặt báo.

Đã có bao nhiêu lần bạo hành xảy ra, đã bao nhiêu lần trẻ con bị ngược đãi?

Hành vi sử dụng bạo lực để nuôi dạy trẻ của mẹ con bà Quản Thị Kim Hoa đã bị phóng viên Đài Phát thanh – Truyền hình Đồng Nai ghi hình và phát sóng vào ngày 15/1/2008, gây bức xúc dư luận cả nước. Kết quả mức án 18 tháng tù giam có làm giảm đi nạn bạo hành trẻ mầm non không?

Xin thưa là không.

Mới nhất là ngày 16/11/2013, cháu bé 18 tháng tuổi Đỗ Ngọc Long đã bị bảo mẫu Hồ Ngọc Nhờ xách ngược lên doạ khi cháu không chịu ăn và làm té xuống sàn, sau đó lại bị đạp liên tiếp vào bụng dẫn đến tử vong.

Chúng ta phẫn nộ, chúng ta sục sôi khi đọc tin nhưng chúng ta ngồi im để sự phẫn nộ ấy trôi qua như một tiếng chặc lưỡi.

Chưa bao giờ chúng ta - những người lớn, những người đã, đang và sẽ làm cha làm mẹ nghĩ đến việc lên tiếng để yêu cầu phải có thay đổi từ hệ thống giáo dục – nguồn gốc chính dẫn đến tình trạng rối ren và ảnh hưởng đến tương lai của con cái chúng ta.

Xem xét kỹ lại các tình huống đã xảy ra những vụ bạo hành thương tâm, đa phần là ở các nhà trẻ tư, nơi có nhiều công nhân nghèo xa quê sinh sống.

Chúng ta – những người lớn, chưa một lần nghiêm túc nghĩ đến việc lên tiếng để bảo vệ quyền lợi của thế hệ tương lai.

Năm 2008, báo Sài Gòn Tiếp Thị có đăng bài “Khi sữa mẹ còn chảy ròng ròng trên ngực áo” (1) của nhà báo Trung Hồ. Và đến nay lời đề nghị “Thưa ông bộ trưởng bộ Giáo dục và Đào tạo, xin hãy ra ngay một lệnh buộc các trường mầm non nhận ngay các cháu kể từ bốn tháng tuổi, khó khăn nếu có sẽ cùng tìm ra cách giải quyết” của nhà báo này đã rơi vào quên lãng.

Đã có lúc nào chúng ta, những người lớn nghĩ rằng mình sẽ phải lên tiếng để yêu cầu các cơ quan chức năng phải nghiêm túc giải quyết vấn đề nhận giữ trẻ ngay khi các bà mẹ kết thúc giai đoạn nghỉ thai sản quay lại làm việc chưa?

Chúng ta phẫn nộ vì sự tàn ác của các bảo mẫu nhưng có lúc nào chúng ta thật sự quan tâm đến việc các khu công nghiệp có công nhân nghèo xa quê phải có các nhà trẻ được đăng ký và giám sát chặt chẽ bởi hệ thống công quyền chưa?

Có nhiều cha mẹ quan tâm đến chất lượng và sự quản lý đào tạo ở các nhà trẻ của các cơ sở tôn giáo nhưng ít biết rằng các cơ sở này rất khó khăn khi muốn cấp phép hoạt động bình thường như bao cơ sở khác. Và chúng ta sẽ phải làm gì nếu muốn lựa chọn những trường học như thế này cho con cái chúng ta?

Chúng ta phẫn nộ để làm gì? Cần bao nhiêu lần chúng ta phẫn nộ nữa để chấm dứt tình trạng bạo hành trẻ mầm non?

Chính chúng ta - những người lớn cũng có lỗi vì không bảo vệ được trẻ em khỏi sự bạo hành này.
Chúng ta phẫn nộ mỗi ngày khi có sự việc xảy ra, nhưng lại chấp nhận sống chung với nguyên nhân gây ra sự phẫn nộ ấy chỉ vì nó chưa đụng chạm đến con em mình. Đó là một hình thức dạy dỗ con em chúng ta trở nên ích kỷ với cuộc sống xung quanh.

Chúng ta phẫn nộ khi thấy trẻ con bị đánh, người dân bị án oan 10 năm vì bức cung, người lao động nghèo bị bóp cổ, tham nhũng tràn lan trong xã hội.. Và chúng ta phẫn nộ trong im lặng bởi nó chưa đụng chạm đến cuộc sống của chúng ta bằng mắt thường.

Và mọi thứ cứ lặng lẽ trôi qua như một ấm nước sôi sùng sục rồi trở nguội, không có gì thay đổi. Vậy thì chúng ta phẫn nộ để làm gì?

Đã đến lúc đừng để sự phẫn nộ của chúng ta dần trở nên một phản ứng bình thường và vô cảm nếu chúng ta muốn mọi thứ thay đổi thật sự.
.............................
(1) http://sgtt.vn/Nguyet-san/Chi-tiet/84501/Khi-sua-me-con-chay-rong-rong-tren-nguc-ao.html

Không ít người lấy sự nghèo để biện minh, bảo vệ sự tồn tại cho nền giao thông xe máy, nạn lấn chiếm lòng đường, vỉa hè… Một số người thậm chí còn đấu tranh để những thứ không phù hợp với các đô thị hiện đại, văn minh này tồn tại vĩnh viễn, bất chấp những hậu quả khủng khiếp...

Một người chạy xe máy vào đường ngược chiều không phải vì theo gương xấu của vị quan xấu nào đó, mà vì muốn "cướp" đường để đi nhanh
Chúng ta nói được với nhau, giải thích được cho nhau mọi thứ trên đời một cách dễ dàng và đầy thuyết phục. Kể cả những thứ chúng ta hiểu rất ít và thậm chí là cả những thứ chúng ta thực ra không hiểu gì.Nếu cần phải tìm một tố chất con người nào đó mà người Việt ta giỏi hơn người các nước khác, thiết nghĩ đó là năng khiếu ngụy biện.
Những cái xấu tràn lan trong xã hội: tham ô tham nhũng; ăn trộm, ăn cướp, kể cả giết người; rượu chè, cờ bạc, đĩ điếm; đầu độc nhau bằng hàng hóa độc hại, thực phẩm độc hại; vi phạm luật, gây rối loạn trật tự giao thông; lấn chiếm lòng đường, vỉa hè, xả rác bừa bãi; chen lấn xô đẩy mọi lúc, mọi nơi...
Quan tham thì tại chính họ tham, cái đó rõ rồi và họ cũng không thanh minh. Họ chỉ tìm cách trốn tránh sự trừng phạt nghiêm minh của pháp luật.
Còn các kiểu dân hư thì chúng ta đều giải thích được hết. Rất đơn giản và đầy thuyết phục: dân hư bởi tại... quan tham!
Đó là câu nói gần như cửa miệng của rất nhiều người, cho nhiều hoàn cảnh khác nhau, của bản thân mình hoặc của người khác.
Chúng ta yên tâm rằng, một ngày quan hết tham hoặc hết quan tham, mọi người sẽ tử tế ngay và nước ta sẽ trở thành thiên đường về môi trường sống.

Không ít người lấy sự nghèo để biện minh, bảo vệ sự tồn tại cho nền giao thông xe máy, nạn lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm chợ "cóc", làm chỗ giữ xe - Ảnh: Diệp Đức Minh

Có bao nhiêu người ngoài 25 tuổi làm điều tốt không vì mục đích cá nhân của mình, mà đơn giản chỉ vì noi gương người tốt việc tốt của người ABC nào đó?Nhưng hãy trung thực với mình đi!
Có bao nhiêu người ngoài 25 tuổi làm điều xấu không vì động cơ cá nhân của mình, mà đơn giản chỉ vì theo gương xấu của người XYZ nào đó?
Ai chứ nhà tâm lý học nổi tiếng Abraham Maslow thì chắc không bao giờ chấp nhận cách giải thích vạn năng của người Việt chúng ta.
Theo Maslow thì mọi người đều hành động theo những nhu cầu cụ thể của chính bản thân. Mọi hành động của một cá nhân đều có một (hoặc một số) nhu cầu cá nhân sau nó. Bối cảnh hành động chỉ tác động, làm thay đổi lợi ích thu được và rủi ro phải chịu của hành động thôi. Có làm theo gương ai thì cũng là để đáp ứng các nhu cầu của bản thân người hành động.
Nói cách khác, một người tốt hoặc xấu không phải vì người khác tốt hoặc xấu, mà vì các lợi ích mà hành động tốt hoặc xấu có thể mang lại cho chính người đó.
Nếu các lợi ích đủ lớn, còn các rủi ro (hậu quả) được nhận thức là nhỏ (hoặc không có rủi ro) thì người đó sẽ hành động theo "sự chỉ đạo" của nhu cầu bản thân. Bối cảnh hành động chỉ có thể làm tăng hoặc giảm lợi ích và rủi ro.
Một vị quan thực hiện hành động tham ô vì lợi ích tiền bạc cho chính mình. Khi tham ô, vị quan đó nhận thức rủi ro của hành động tham ô là nhỏ.
Một người dân cướp của, người đó cướp của không phải vì theo gương xấu của vị quan tham ô nào đó, mà vì lợi ích tiền bạc cho chính mình. Khi cướp, người đó nhận thức rủi ro của hành động cướp là nhỏ.
Một người dân lao vào hôi của trong một vụ tai nạn giao thông hoặc thiên tai, người đó hôi của không phải vì theo gương xấu của vị quan tham ô nào đó, mà vì lợi ích vật chất cho chính mình. Hôi của cũng là cướp của. Khi hôi của, người đó nhận thức rủi ro bị xã hội lên án, hoặc bị bắt ra tòa xử, là nhỏ.
Một người dân vượt đèn đỏ, người đó vượt đèn đỏ không phải vì theo gương xấu của vị quan xấu nào đó, mà vì muốn đi nhanh qua ngã ba, ngã tư. Vượt đèn đỏ là "cướp" đường, thời gian và sự an toàn của người khác, xấu xa không kém cướp của. Khi vượt đèn đỏ, người đó nhận thức rủi ro mình bị các xe đi theo tín hiệu đèn xanh đâm chết, hoặc bị công an bắt phạt tiền, là nhỏ.
Một người dân chen lấn, xô đẩy khi mua hàng hay khám bệnh, người đó chen lấn, xô đẩy không phải vì theo gương xấu của vị quan xấu nào đó, mà vì muốn mua được hàng, hoặc được khám bệnh, nhanh hơn những người khác. Chen lấn, xô đẩy là "cướp" thời gian, sức khỏe của người khác, xấu xa không kém cướp của. Khi chen lấn, người đó nhận thức rủi ro bị lên án là nhỏ.
Đọc đến đây, không ít người sẽ nhìn ra "bảo bối" thứ hai: sự thiếu hụt về nhận thức, hay sự thiếu giáo dục. Họ sẽ nói: những hành động xấu đó trong dân là do nhận thức của con người nông cạn, do chất lượng giáo dục yếu kém (trong đó có các môn giáo dục công dân). Lỗi của ngành giáo dục, phải sửa từ giáo dục.
Nói như thế không sai và ngành giáo dục cần phải đổi mới toàn diện để tạo ra những thế hệ người Việt Nam có chất lượng hơn. Nhưng trong khi chờ những thế hệ người có chất lượng hơn đó, chúng ta vẫn phải có giải pháp đối với các "hàng hóa tồn kho", đó là chính chúng ta.
Chúng ta không thể bắt những người tuổi 20, 30, 40, 50 quay lại học lại từ lớp vỡ lòng và các môn học đạo đức công dân có chất lượng tốt hơn.
Cũng không cần thiết phải làm điều đó, vì ngoài giáo dục ở nhà trường, còn có giáo dục gia đình, giáo dục xã hội, giáo dục pháp luật, trong đó mỗi người đều có thể tự học, được học, thậm chí bị bắt học. Không ở đâu giáo dục ở nhà trường có thể thay thế được rất nhiều các hình thức giáo dục sau nhà trường.
Một người được giáo dục pháp luật tốt và vì một xã hội có trật tự, kỷ cương, người đó không bao giờ lấy cái sai, cái xấu của ai đó để biện minh cho cái sai, cái xấu của bản thân mình hay của những người khác.
Nhưng ở nước ta, đây là kiểu thái độ phổ biến trước các hiện tượng xã hội. Mọi thứ xấu xa đổ hết cho chính sách, cơ chế, thể chế là xong.
Không ít người lấy sự nghèo để biện minh, bảo vệ sự tồn tại cho nền giao thông xe máy, nạn lấn chiếm lòng đường, vỉa hè làm chợ "cóc", quán "cóc", làm chỗ giữ xe. Một số người thậm chí còn đấu tranh để những thứ không phù hợp với các đô thị hiện đại, văn minh này tồn tại vĩnh viễn, bất chấp những hậu quả khủng khiếp của chúng đối với sự phát triển của xã hội và con người.
Họ bảo, đến Paris, London, New York còn có nền kinh tế vỉa hè cơ mà? Điều họ không nói để mọi người biết là ở Paris, London, New York có kinh tế vỉa hè, nhưng đó là kinh tế vỉa hè được chính quyền quy hoạch và quản lý chặt chẽ để đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh an toàn thực thẩm và trật tự, mỹ quan đô thị, không phải là thứ kinh tế vỉa hè tự phát và gần như không được quy hoạch, quản lý như ở ta. Singapore cũng có các hàng cơm bình dân, nhưng không phải các hàng cơm bạ đâu ngồi đấy, xung quanh đầy rác rưởi, ruồi muỗi như ở ta.
Họ cho rằng xe máy là phương tiện đi lại của người nghèo và bảo vệ  quyền sử dụng xe máy vĩnh viễn của mỗi người dân. Họ "lờ" đi thực tế là các nước Trung Quốc, Myamar đã cấm xe máy ở rất nhiều thành phố. Họ cũng không nói đến quyền của mỗi người dân, kể cả người nghèo, được hưởng một nền giao thông công cộng văn minh, hiện đại, an toàn như người dân ở các nước khác, không nói đến trách nhiệm đóng góp của người dân cùng nhà nước để sớm có một nền giao thông công cộng như vậy (dù chỉ là sự đóng góp tinh thần và sự sẵn sàng từ bỏ thói quen đi xe máy để phát triển giao thông công cộng).
Chúng ta thường chấp nhận sự ngụy biện vì không nghĩ nó gần như đồng nghĩa với một từ khác, đó là đạo đức giả. Nó dẫn dắt con người đến với những giá trị giả, những thứ không có giá trị ở các xã hội phát triển văn minh.
Không ở đâu một xã hội có thể phát triển giàu có và văn minh dựa trên sự phổ biến của năng khiếu ngụy biện, thói đạo đức giả.
Theo học thuyết của Maslow, để thay đổi hành vi con người và giảm bớt những thứ xấu xa trong xã hội, không có cách nào khác là phải tác động mạnh mẽ vào các lợi ích các thứ xấu xa đó mang lại cho đối tượng hành động (làm giảm hoặc triệt tiêu chúng), đồng thời tác động mạnh mẽ vào phía nhận thức, làm cho mỗi một người ý thức đầy đủ các rủi ro, hậu quả từ mỗi hành động của bản thân.
Nếu ai đó bảo mọi người cứ tử tế đi rồi tôi sẽ tử tế, người đó hoàn toàn không đáng tin chút nào. Điều kiện người đó đưa ra (để trở thành người tử tế) không xã hội nào đáp ứng được cả.
Lương Hoài Nam
* Bài viết thể hiện văn phong và góc nhìn của tiến sĩ Lương Hoài Nam, đang công tác trong lĩnh vực hàng không, du lịch, sống tại TP HCM

Người ta nói: Thêm đường hết đắng.
Nhưng ngọt ngào đâu có phải Cà Phê?
Giọt đắng này, giọt của si mê.
Như giọt đời, giọt mưa, giọt nắng…

Thật lạ, con người thường đam mê những thứ đắng cay, không mấy ai nghiện ngập ngọt bùi. Có phải cuộc đời nhiều mặn nồng, nhiều thăng trầm cay đắng, cho nên con người tìm đến những thứ đắng cay để dung hòa cảm xúc? Còn hơn thế, Cà Phê có đủ vị đắng để giúp ta suy tưởng, có đủ độ nồng để tạo cảm giác bồng bềnh, có đủ độ chua để nghĩ về thất bại, có đủ độ mặn để nhớ về đất mẹ, và có đủ độ ngọt ngào để ta cảm thấy được yêu thương…


Cảm ơn các vị linh mục Tây phương đã đem cây Cà Phê từ cao nguyên Ethiopia xa xôi mãi tận Phi Châu vào đất Việt. Nghe nói ban đầu loại cây quý giá này chỉ được trồng tại vườn của các nhà thờ Phía bắc Việt Nam từ khoảng cuối những năm 1880. Sau này, tức là đến khoảng những năm 1920 cây Cà Phê mới được trồng đại trà ở Đak Lak và Gia Lai - Kon Tum. Giống như tại hàng trăm quốc gia uống Cà Phê trên thế giới, văn hóa Cà Phê đã hình thành ở Việt Nam như một điều tất yếu từ món quà tuyệt vời do tự nhiên ban tặng.

Hoàn cảnh sống đã tạo nên văn hóa Cà Phê Việt. “Cà Phê nhanh” dành cho những người bận rộn, được đựng trong các ly cốc sử dụng 1 lần, thường đi kèm với “nhạc đệm” là bánh mỳ Pa-tê, bánh mỳ ốp la, họ uống nó như một loại Food cung cấp dinh dưỡng và khoáng chất cho cơ thể thêm khỏe mạnh và năng động. Loại này thường là Cà Phê đá, hoặc Cà Phê sữa đá.


“Cà Phê đường phố”, thường là Cà Phê đen, loại Cà Phê bình dân nhất và cũng có đông “đệ tử” nhất, chỉ đông vào buổi sáng, trước giờ làm. Cà Phê loại này thường được pha phin trong những chiếc ly thủy tinh bình dị, xinh xinh nho nhỏ. Bên cạnh không bao giờ thiếu một ấm trà nóng sẵn sàng…

“Cà Phê tự tình” dành cho các đôi nam nữ chuyện trò tâm sự. Ly Cà Phê ấy, nếu là Cà Phê đen thì phải pha vào tách kiểu ưa nhìn một chút. Người pha phải dùng một loại chong chóng quậy mạnh để tạo bọt, trang trí chút kem, hay bọt của Cà Phê Master hình chiếc lá hoặc trái tim. “Cà Phê tự tình” thường bắt đầu từ khoảng 8 giờ tối đến tận đêm khuya.

“Cà Phê tự sự” là uống một mình, suy tưởng, hoài niệm. Người uống biệt riêng những phút giây tự đối diện với cuộc sống nội tâm của mình…

Đa dạng là văn hóa Việt. Nhưng ngày nay nó đã bị mai một, biến dạng vì mất đi cái gốc rễ cội nguồn. Nhưng rất may là “văn hóa Cà Phê Việt” vẫn là điều đáng để người đời trân trọng. Dường như có một sức mạnh thần bí nào đó đã làm cho bất kỳ ai khi đang ngồi trước ly Cà Phê đều trở nên nhã nhặn, hiền lành, dễ mến. Người ta thường quên mất tuổi tác, địa vị, cũng như giai cấp của mình khi trước mặt là một ly Cà Phê bốc khói đang tỏa mùi hương quyến rũ. Đó thực sự là triết lý, và là sức hút hữu hình của Cà Phê.

Không giống như phong cách Cà Phê Starbuck của Mỹ, hay phong cách Milan của Ý. Hoặc kỳ lạ là đổ đường, Cà Phê vào đun chung như phong cách Thổ Nhĩ Kỳ. Cà Phê Việt hầu hết được pha theo phong cách Pháp, tức là dùng phin. Thích thú và hồi hộp chờ từng giọt Cà Phê rơi tí tách, là sở thích đặc biệt của dân “ghiền” Cà Phê. Muốn cho Cà Phê giữ được độ hấp dẫn, người ta thường ngâm chiếc ly của mình trong một cái chén (bát) nước nóng…

Khi những giọt đắng cuối cùng trên phin ngưng chảy, cũng là lúc chúng ta sắp sửa có quyền thưởng thức ly Cà Phê tuyệt vời. Một chút đường trắng, chiếc muỗng nhỏ xíu như đồ chơi trẻ em trên tay, ta khuấy nhẹ, thật nhẹ thôi, thả lỏng toàn thân cho tâm hồn thư thái. Và khi nâng ly Cà Phê lên môi, một mùi thơm ngất ngây pha chút ngai ngái, ngầy ngậy lan tỏa trong khoang mũi, cộng với vị đắng dịu dàng trên môi, ta cảm nhận hương vị Cà Phê đang tan ra trong miệng, thấm sâu vào tận trái tim khối óc. Lâu lâu nhấp một ngụm nhỏ để lặp lại cảm giác tuyệt diệu này, đó quả là những phút giây hạnh phúc…

Công năng kỳ diệu đến thần bí của Cà Phê có lẽ là nhờ nó đã làm cho con người thư thái. Chính vì vậy trước ly Cà Phê, một gã giang hồ cộm cán cũng trở nên hiền lành. Người đang nóng giận cũng trở nên mềm mại. Người đang buồn chán cũng trở nên yêu đời. Và người mệt mỏi bỗng thấy tràn đầy sinh lực. Chính điều đó đã giúp cho văn hóa Cà Phê Việt đứng vững trước những băng hoại của lối sống gấp gáp, hối hả, vội vàng… 

Ở Việt Nam, nói đến Cà Phê thì phải nghĩ ngay đến Sài Gòn và các tỉnh từ Nam Trung Bộ trở vào. Văn hóa Cà Phê đã gắn liền với đời sống đa dạng của người Miền Nam, giống như Trà (Chè) của Miền Băc vậy. Sài Gòn có hàng ngàn quán Cà Phê khác nhau. Người ta có thể mua được Cà Phê bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào không quá phạm vi bán kính vài trăm mét.

Sở thích buổi sáng của người dân Sài Thành chính là "Cà Phê đường phố", vừa uống Cà Phê vừa ngắm dòng người xe qua lại, có lúc nhìn mà không nhìn, nghe mà không nghe. Người ta cũng có thể biết được kết quả bóng đá cúp Champions league tối qua ra sao, nhà ông nọ mới bị trộm đột nhập, một diễn viên nổi tiếng dính Scandal tình ái, biểu tình chống Trung Quốc ở Hà Nội, hay công an vừa bắt giữ Giáo Dân tại Vinh. Tất tật tin thời sự có thể biết được quanh ly Cà Phê buổi sáng.

Ở Sài Gòn còn có những quán Cà Phê “xịn” cả về phong cách cũng như chất lượng. Rất tiếc nó lại thường chỉ mở cửa về chiều và ban đêm. Có thể kể đến quán CUCKOO COFFEE tại Thanh Đa, mà ở đó người ta uống Cà Phê theo số từ 1 đến 5; nhưng đã là dân sành điệu thì dứt khoát chỉ uống số 1 (100% Cà phê Arabica Đà Lạt) mà thôi. Tìm chút phong cách nghệ sỹ, văn thơ, ta có thể đến “Cà Phê Du Miên” Hẻm Trịnh, Giọt Đắng, Mưa Chiều, Đợi, Lối Về vv.., hàng trăm cái tên đầy màu sắc. Nhưng có vẻ như những chốn ấy chỉ hợp với dân chơi và khách du lịch, phù hợp phong cách “tự tình”, “tự sự”...

Những người thích thoáng đãng thường chạy xe ra bờ sông Sài Gòn uống Cà Phê Bến Nghé, Thủ Thiêm. Vừa thưởng thức Cà Phê, hít thở khí trời, vừa cảm nhận cái mùi mặn nồng tanh tanh của sông nước, trải hồn theo những con sóng nhỏ nhấp nhô. Xa xa phía Quận 2; những con phà đêm đang cần mẫn đưa người qua sông đến với Quận Nhất và Quận 3; là trung tâm náo nhiệt nhất Sài Gòn.

Dù là ta đang ngồi ở quán Cà Phê tầng thứ 33 của Sài Gòn Central Quận Nhất, hay Cà Phê Chiều Tím Quận 5, hoặc trong một quán cóc rêu phong gần cầu Xóm Củi Quận 8, thì hàng đầu vẫn phải nhắc đến, đó là chất lượng một ly Cà Phê Việt. Ly Cà Phê Việt phải có phong cách Việt. Nếu phong cách “Tây” quá thì hẳn là nó chỉ phù hợp với người phương tây. Nhưng nói đến Cà Phê Việt thì nhất thiết phải nhắc đến Cà Phê đen, và không thể không nhắc đến Tây Nguyên là thủ phủ của Cà Phê Việt Nam.

Tuy một vài năm gần đây cũng xuất hiện nhiều các quán Cà Phê phong cách tại Ban Mê Thuột, Pleiku, Đà Lạt. Nhưng giới uống Cà Phê nhiều nhất và sành uống nhất vẫn là dân lao động và công chức Tây Nguyên có gốc gác di dân từ các tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi. Cái mà không đâu có được, chính là người uống Cà Phê ở Tây Nguyên có thể ngồi ngay cạnh vườn Cà Phê để uống. Nhất là vào mùa Cà Phê ra hoa, hoa Cà Phê nở rộ trắng ngần, tỏa hương thơm ngát, quyến rũ bao loài ong bướm lạ mắt từ đâu đổ về lấy nhụy làm mật, làm cho những nhành hoa cứ luôn lay động, như có hơi gió sớm thoảng qua. Những cảnh đẹp đẽ thơ mộng ấy nếu muốn thì có thể tìm thấy ngay tại ngoại ô các thành phố như Pleiku hay Ban Mê Thuột, chứ chẳng cần phải chạy xe đến tận các biệt khu trồng Cà Phê xa xôi...

Phải chăng văn hóa Cà Phê Việt tồn tại và phát triển là do tâm hồn người Việt? Điều đó rất đúng. Nhưng còn một yếu tố khác làm nên văn hóa Cà Phê, đó là nhờ triết lý Cà Phê và sức mạnh quyến rũ đầy nhân tính của hạt Cà Phê. Sự kỳ diệu đó là món quà vô giá mà tạo hóa đã ban tặng cho con người. May mắn cho người dân Việt là họ được thiên nhiên ưu đãi cho những vùng đất đỏ Bazan phù hợp với cây cà phê ngon và đặc biệt là vùng Cầu Đất - Đà Lạt nơi có độ cao trên 1.500 mét và đất bazan phong hóa màu mở để cho ra loại hạt cà phê Arabica ngon nhất thế giới. Trải qua bao nắng mưa dầu dãi, thấm đượm mồ hôi người trồng. Trải qua đau đớn trong lửa, nước, xay nghiền, không giống như Gạo sau xay giã thì trắng như ngà ngọc. Cà Phê tuy mang màu đen sẫm, nhưng trong lòng lại chan chứa bao thi vị cuộc đời…

Chính tấm thân của chúng ta cũng là một sự vay mượn, tâm thức của chúng ta là một dòng luân lưu của ý thức từ nhiều người khác nhau, của ngoại cảnh và nội giới.



Hàng năm người Hoa Kỳ dành ngày Thứ Năm trong tuần lễ cuối của tháng Mười Một để cử hành lễ Tạ Ơn. Ngày lễ Tạ Ơn cũng còn được gọi là “Ngày Gà Tây” và theo thống kê cho biết mỗi năm có hơn 270 triệu con gà tây bị giết làm thức ăn, trong đó có 78 triệu con lên bàn ăn vào ngày lễ Tạ Ơn. Trong dịp lễ này, ngoài món gà tây nướng, còn có các món khoai lang, bắp ngô và bí đỏ.

Theo tài liệu lịch sử Hoa Kỳ, những người tiền phong đến phần đất mới này, đã phải chịu nhiều gian nan cực nhọc, do khí hậu khắc nghiệt, bệnh hoạn và đất hoang chưa bao giờ khai phá. Với sự giúp đỡ chỉ bảo kinh nghiệm trồng hoa mầu của thổ dân trong vùng, họ đã khắc phục được mọi khó khăn. Và để tỏ lòng biết ơn đất trời và những người bạn mới, họ đã mời thổ dân trong vùng tham dự bữa ăn với những món ăn do chính họ cầy cấy, như khoai lang, bắp ngô, bí đỏ và gà rừng vào một ngày cuối tháng Mười Một, và từ đó có tục lệ này.

Khởi từ câu chuyện chiếc tàu Mayflower. Tháng 09 năm 1620, một nhóm gồm 102 người, trong đó có 44 người thuộc giáo phái Separatist, tức nhóm ly khai Giáo Hội Anh Quốc Giáo, muốn tìm đất sống mới và có quyền tự do tín ngưỡng, đã lên chiếc tàu buồm Mayflower rời cảng Plymouth ở Anh, vượt Đại Tây Dương sang Bắc Mỹ. Sau cuộc hành trình vất vả dài 65 ngày, tàu Mayflower không đến được nơi dự tính là vùng Virginia mà bị gió bão trôi giạt lên phía Bắc, đến một vùng ngày nay thuộc bang Massachusetts vào tháng 11 năm 1620.

Nhóm di dân này được gọi là Pilgrims, đã trở thành những người đầu tiên định cư trên đất Mỹ, lập ra thành phố New Plymouth ngày nay. Do không chịu nổi đói và rét của mùa Đông lạnh giá đầu tiên nơi vùng đất mới, phân nửa những người di dân đã chết. Tới mùa Xuân năm sau, 1621 họ mới liên lạc được với thổ dân da đỏ Wampanoag và được những người thổ dân này giúp đỡ trong vấn đề trồng hoa mầu, cách bắt cá và săn thú rừng và họ đã gặt hái được kết qủa. Sau đó, những người di dân sống sót quyết định làm lễ tạ ơn Trời Đất và tạ ơn những người bản xứ da đỏ đã giúp đỡ họ vì họ tin rằng nếu không có những người dân tốt bụng này thì họ không thể tồn tại được qua năm đó. Và đây là sự kiện khởi đầu cho truyền thống Thanksgiving của Hoa Kỳ và truyền thống này còn mãi đến ngày nay.

Hơn 100 năm sau, với mục đích tạo dựng tinh thần đoàn kết giữa các người di dân chống lại ngoại xâm, tháng 10 năm 1789, tổng thống Washington đã công bố ngày lễ Tạ Ơn toàn quốc đầu tiên vào ngày 26 tháng 11. Điều nầy xác định được tính chất đặc thù của ngày lễ Tạ Ơn trong khi dân Mỹ đang phát động cuộc cách mạng để giải phóng dân tộc ra khỏi sự đô hộ của Anh quốc.

Vào những năm 1830, khi tình hình nước Mỹ bắt đầu bị chia rẽ, và các tiểu bang Miền Nam đòi ly khai, tổng thống Lincoln tuyên bố chọn ngày Thứ Năm của tuần lễ cuối tháng 11 năm 1863, làm ngày lễ Tạ Ơn, nhằm tạo nên tình đoàn kết dân tộc trong lúc cuộc nội chiến Nam-Bắc nước Mỹ đang vào thời kỳ tương tàn và ác liệt nhất. Ông nhận thức được tầm quan trọng của ngày lễ Tạ Ơn, và cũng muốn nhắc nhở dân Mỹ nhớ đến công ơn của những người di dân đầu tiên đã xây dựng nên nước Mỹ.

Không dựa theo một tôn giáo nào, lễ Tạ Ơn trải qua gần 400 năm đã trở thành ngày hội của cả quốc gia, cảm ơn trời đất cho mọi người đủ cơm áo mặc.

Truyền thống lễ Tạ Ơn của người Hoa Kỳ rất đẹp, không mang tính chất chính trị, không dành riêng cho một tôn giáo hay để tưởng niệm một cá nhân nào. Nó là ngày lễ cho tất cả các dân tộc có mặt trên nước Mỹ, vốn là những người di dân, để họ bày tỏ lòng biết ơn của họ đối với đất nước, dân tộc, văn hoá và nền tự do dân chủ của Hoa Kỳ. Ngày lễ Tạ Ơn giúp người di dân có cơ hội nói lên lòng biết ơn đến các bậc tiền nhân và những sự hy sinh của những người có công xây dựng đất nước. Ý nghĩa ngày lễ này gắn liền với lòng biết ơn của con người, nên rất đáng được những người di cư đến sau, trân quý và áp dụng.

Trong giai đoạn đầu tiên định cư nơi xứ sở này, những người Việt di cư đến sau cũng gặp vô vàn khó khăn, nhưng cuối cùng dân tộc Hoa Kỳ và đất nước này, đã giúp họ vượt qua mọi trở ngại và họ đã thành công, không có mùa màng nhưng được công ăn việc làm tốt, buôn bán thịnh vượng phát đạt, từ tiểu thương bán lẻ, từ làm móng tay, làm tóc đến buôn bán nhà cửa và thị trường chứng khoán. Vì thế lễ Tạ Ơn là nét đẹp văn hóa mới đối với người Việt tại Hoa Kỳ.

Với đạo Phật, lễ Tạ Ơn cũng không ngoài tinh thần lễ Tứ Ân mà người con Phật phải luôn luôn nhớ tưởng và báo đền. Theo kinh Tâm Địa Quán, bốn ơn đó là: Ơn cha mẹ, Ơn chúng sinh, Ơn quốc gia-xã hội, và Ơn Tam Bảo.

Trong bốn ơn thì Ơn Cha Mẹ là ơn đứng hàng đầu, lớn lao sâu rộng tựa như trời biển. Chúng ta ra đời, lớn khôn, trưởng thành rồi góp mặt với xã hội là do công ơn cha mẹ sinh thành và nuôi dưỡng. Từ lúc bé thơ cho đến khi thành người, cha mẹ đã tốn không biết bao nhiêu là công sức, khổ nhọc để cho ta nên người. Cha mẹ đã đổ không biết bao nhiêu mồ hôi và nước mắt trong cuộc sống để cho ta hưởng trọn được những gì tốt đẹp nhất trong đời. Lòng hy sinh của cha mẹ dành cho con không bờ bến. Cho nên, bổn phận làm con không những phải nhớ ơn mà phải biết báo đền công ơn dưỡng dục và sanh thành của cha mẹ.

Thế giới chúng ta đang sống là một sự kết hợp hài hòa giữa cái này và cái khác. Thiếu cỏ cây, đất nước, ánh sáng mặt trời, chúng ta khó có thể tồn tại, hay nếu sống được thì chúng ta cũng sẽ sống trong ốm đau bệnh tật và đời sống sẽ tẻ nhạt khi thiếu vắng tiếng chim hót lúc ban mai, thiếu hoa nở khi trời vào xuân, thiếu tiếng nước chảy róc rách của mạch nước từ hang đá, thiếu tiếng ào ạt liên tục của dòng thác tạo thành bản nhạc rừng vĩ đại. Và con người sẽ sống cô đơn khi thiếu đồng loại của mình, sẽ héo mòn mỗi ngày, rồi sẽ trở thành trơ trọi, mất sức sống.

Thế giới chúng ta đang sống là một thế giới của sự tương tức tương nhập, trùng trùng duyên khởi, thế giới của “cái này có thì cái kia có, và cái này không thì cái kia cũng không”. Thế giới chúng ta đang sống là thế giới của nợ nần nhau, của trả vay, vay trả nhiều đời. Chính tấm thân của chúng ta cũng là một sự vay mượn, tâm thức của chúng ta là một dòng luân lưu của ý thức từ nhiều người khác nhau, của ngoại cảnh và nội giới. Suy nghĩ và hiểu được như vậy, chúng ta mới biết được rằng dù hiện tại, chúng ta và những sinh thể khác không biết nhau, nhưng trong quá khứ có thể đã có nhiều liên hệ mật thiết với nhau. Hiểu được như thế thì chúng ta không thể không nghĩ đến nỗi thống khổ của người khác, hay nhân rộng ra là những sinh thể khác.

Chúng ta cần phải cân nhắc trong ý nghĩ và hành động để không làm hại người, hại vật và hại mình là chúng ta đã biết được cách tri ân và báo ân giữa người và người, giữa người và môi trường xung quanh, để tạo nên một thế giới loài người sống có hòa ái. Phát tâm như vậy, chính là suối nguồn của tri ơn và báo ơn đến với chúng sanh.

Con người sinh ra và sống ở đời là đã chịu rất nhiều những ơn huệ của nhau. Ơn cha mẹ, ơn chúng sinh, ơn mưa, ơn nắng, ơn cỏ cây hoa lá và ơn sơn hà xã tắc (quốc gia xã hội), ơn những người đã dày công lập quốc và mở mang bờ cõi, ơn công lao những lòng dũng cảm giữ gìn an ninh và những nhà khoa học, miệt mài nghiên cứu tìm tòi để thăng tiến cuộc sống tiện ích cho mọi người. Chúng ta nhớ ơn chúng sinh, nhớ ơn quốc gia xã hội, trong đó bao gồm ơn dân tộc và quốc gia đã cưu mang chúng ta, đã cho chúng ta thừa hưởng những di sản tinh thần quý báu như dân chủ và tự do, cùng là những tiện nghi công cộng vật chất. Khi ăn hột bắp hay hạt gạo chúng ta còn nhớ đến người cấy trồng huống hồ khi chúng ta lái xe an toàn trên xa lộ, bay trên không trung an lành nhanh chóng, hay đi tầu thuyền trên các hải lộ, mà không nhớ đến tiền thuế đóng góp của những thế hệ trước chúng ta đã tạo dựng nên quốc gia này. Mỗi người chúng ta dù muốn dù không cũng cần đến người khác, tất cả đều có liên hệ hỗ tương với nhau, nên chúng ta cần sống với tấm lòng biết ơn lẫn nhau.

Và cuối cùng trong bốn ơn là Ơn Tam Bảo. Ơn Phật, ơn Pháp và ơn Tăng đã soi đường dẫn dắt chúng ta vượt thoát phiền não và ra khỏi sinh tử luân hồi. Quả thật không có nỗi khổ nào lớn lao bằng nỗi khổ cứ thăng trầm ngụp lặn mãi trong luân hồi sinh tử. Ðức Phật đã thấy như thế và Ngài đã tìm ra con đường giải thoát để hướng dẫn chúng ta cũng được giải thoát như Ngài. Ngài đã từ bi phương tiện giáo hóa, mở nhiều cánh cửa để chúng ta gieo trồng thiện căn, phúc đức. Sở dĩ, hôm nay chúng ta gặp được Phật pháp, để biết được đâu là thiện căn đã gieo trồng từ trước và đâu là ác nghiệp, nếu gây ra sẽ nhận lãnh quả báo xấu trong tương lai. Tất cả những hiểu biết ấy của chúng ta hôm nay là từ Phật, Pháp và Tăng truyền dạy lại. Đó là ơn Tam Bảo mà chúng ta phải biết và phải đền đáp.

Ngày lễ Tạ Ơn đã trở thành một ngày lễ được dân Mỹ tôn trọng nhiều nhất, bất kể tôn giáo và nguồn gốc dân tộc. Qua đó, người ta xem sự biết cảm ơn lòng tốt của người xung quanh là điều không thể thiếu vắng trong sinh hoạt xã hội. Với cái nhìn sâu rộng, người ta muốn mang trọn vẹn ý nghĩa cảm tạ vào trong mùa Thanksgiving. Nó không đơn giản chỉ là một ngày quốc lễ, mà là một phần của nền văn hoá Hoa Kỳ.

Vị CEO người Nhật
“Chúng tôi tôn trọng những người trực tiếp làm ra cái thìa, cái kính vì họ có kỹ năng”. Đó là tâm sự của ông Ito Junichi, CEO công ty World Link Japan Inc về sự khác biệt trong việc đào tạo lao động ở Việt Nam với đất nước mặt trời mọc.

Theo như sự nhìn nhận của vị doanh nhân người Nhật này, thì người lao động Việt Nam ngày nay thích kiếm tiền nhưng lại không chăm chỉ.

Cùng xuất phát điểm là những đất nước bước ra từ chiến tranh với vô vàn khó khăn trong công cuộc hàn gắn vết thương do bom đạn, dựng xây đất nước, với những người dân cần lao, chăm chỉ.
Ông Ito Junichi cho biết: “Khi tôi mới đến Việt Nam (VN) 20 năm trước, tôi thấy người VN cũng rất chăm chỉ như người Nhật”.
Thế nhưng chỉ sau đó ít năm: “Nhưng giờ thì tôi không còn cảm thấy điều đó nữa. Giờ tôi thấy người VN thích kiếm tiền nhưng không còn chăm chỉ như 20 năm trước nữa.”

“Một điều có thể thấy là người Việt Nam thường coi thường những người lao động chân tay như thợ hàn, công nhân lao động, công nhân xí nghiệp. Nhiều người trẻ chỉ thích làm trong những văn phòng tiện lợi, nhà có điều hòa.”

Khác với nước Nhật: “Ở Tokyo, trường đại học nổi tiếng nhất là Đại học Tokyo. Nhưng các sinh viên ở trường này nếu có đến làm cho công ty tàu hỏa của thành phố thì việc đầu tiên họ phải làm là dọn dẹp nhà vệ sinh, cắt vé. Họ phải học lao động bằng chân tay. Họ phải trải qua mọi việc từ dưới lên trên trước khi muốn trở thành sếp. Theo tôi, việc người trẻ không tôn trọng những người lao động chân tay là khuyết điểm rất lớn của xã hội”.

Trong khi đó, ở Việt Nam người trẻ lại coi thường lao động chân tay, nhiều công ty Nhật muốn nhân viên ra xí nghiệp chỉ dẫn cho công nhân nhưng nhân viên trẻ VN không muốn làm việc đó. Còn người Nhật thì họ trân trọng những người làm ra cái thìa, cái kính bởi họ có kĩ năng.
Ở Việt Nam, giờ có nhiều người tốt nghiệp đại học, nhiều người có bằng MBA nhưng họ chưa đụng tay làm những việc thật bao giờ cả. Họ chưa bao giờ làm những công việc tay chân lấm láp. Những người trẻ đó chỉ học trên giấy tờ, đọc sách nhưng họ chẳng hiểu gì thực tế cả.

Ông CEO này kể lại: “Tôi có họp với những người làm việc trong các lĩnh vực như chứng khoán, ngân hàng… để bàn về đầu tư một nhà máy, những người này cần tiền để làm nhà máy nhưng họ không hiểu gì về nguyên liệu thô, quy trình sản xuất hay thị trường… Tôi hỏi thì họ bảo “sếp tôi bảo phải làm”. Những người như vậy, họ chỉ hiểu được phần ngọn, phần bề mặt mà không hiểu hết mọi thứ…”

Để thấy rằng người Việt Nam chỉ thích lao động bàn giấy mà không gắn với thực tiễn, chỉ thích bề nổi mà không thấy cái bề sâu.

Thiết nghĩ giáo dục Việt Nam nên tạo điều kiện cho những người giỏi kĩ năng. Thay vì tạo điều kiện cho những người chỉ giỏi làm bài kiểm tra mà bỏ quên những người không giỏi làm bài kiểm tra nhưng có kĩ năng.

Nhìn nhận về cách sống, cách nghĩ của người Việt hiện đại

Độc giả Chi cũng nhận định thẳng thắn vấn đề về lối sống của người Việt ngày nay qua những gì CEO Nhật Bản nhận định:

“Ông Nhật này nói quá hay, quá đúng, ngay tim đen. Dân Việt đa số nay toàn loại ‘có khiếu’ chém gió, ăn bám, chỉ muốn khoe mẽ mà óc rỗng tuếch, tâm nông cạn. Đây chính là nguyên nhân sâu xa khiến Việt Nam chưa, và có nguy cơ, chẳng bao giờ tạo lập được cái công nghiệp gì cho ra hồn.

Hãy nhìn cho kỹ và ra sức học theo lối sống cần cù chịu khó, tinh thần yêu lao động đích thực của dân Nhật, Hàn! Thôi ngay mấy cái trò chém gió, ru ngủ bấy lâu nay!”

Bạn đọc do van có đánh giá: “Chuyên gia Nhật này nhận xét quá đúng về hiện tại của đất nước ta. Đây là những thứ đã kiềm soát VN, vì thế không bao giờ phát triển. Mọi người trẻ bây giờ, chỉ thích nói không thích làm,… hay xem thường những ngành nghề chân tay,… đây cũng là lỗi của hệ thống giáo dục Việt Nam cũng như chính sách của nước ta. Cần thay đổi nếu không 50 năm sau đất nước vẫn như xưa.

Cảm ơn ông bạn người Nhật có suy nghĩ và chia sẽ đúng đắng về điều này. Hi vọng rằng chính phủ, ngành giáo dục và xã hội nhìn thấy và thay đổi, chứ không như bây giờ nhà nhà cho con học ngân hàng tài chính, thương mại kế toán,..”

“Một ngàn năm trước họ đã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ học kẻ thù, mà chỉ sợ vô minh vì không học”.

Tại hội thảo Sách và chấn hưng giáo dục tổ chức ở TP.HCM ngày 6.5 do IRED (viện Nghiên cứu giáo dục) phối hợp với bộ Văn hoá – thể thao và du lịch tổ chức, GS Nguyễn Xuân Xanh đã có một bài phát biểu gợi nhiều liên tưởng, khi lý giải nguyên nhân đưa Nhật Bản đến địa vị siêu cường chính là không ngừng tôn vinh việc đọc, việc học và đề cao tri thức…

Nhật Bản đã được cả thế giới nể trọng hơn 100 năm qua, nếu tính từ cuộc chiến tranh Nhật-Thanh 1894-95. Sau thắng lợi đột ngột của một dân tộc nhỏ bé, từng là học trò và chư hầu của Trung Hoa, thắng lợi trước người thầy và người khổng lồ bên cạnh mình, thì không những tất cả các dân tộc châu Á, mà còn bản thân Trung Hoa, nhưng trên hết các cường quốc phương Tây đều nhìn về Nhật Bản với con mắt cực kỳ nể phục và kinh ngạc.

Thói quen đọc sách của người Nhật: xưa…
Công ty đầu tiên là công ty sách

Công cuộc duy tân Minh Trị chưa đầy 30 năm mà đã thay đổi hẳn bộ mặt của dân tộc nhỏ bé này, đưa Nhật Bản từ một xã hội phong kiến lên hàng cường quốc hiện đại. Nhà Thanh sụp đổ. Mười năm sau đế chế Nga cũng chịu chung số phận. Nhật Bản đã nghiễm nhiên trở thành cường quốc toả sáng tại vùng châu Á còn sống trong đêm tối.Vì sao Nhật Bản có sức mạnh thần kỳ và nhanh chóng ấy? Nhật Bản trước hết là một dân tộc văn hoá độc đáo mà một trong những nét độc đáo đó là văn hoá đọc và giáo dục. Họ đã trưởng thành nhanh chóng bằng sự rèn luyện văn hoá từ nội tâm sâu thẳm. Và đó là đề tài tôi xin được phép trình bày sau đây.

Vào thời Minh Trị, nhiều quyển sách phương Tây được dịch sang tiếng Nhật đã được bán ra hàng triệu bản, như quyển “Tự giúp mình” (Tự trợ luận, Self-Help) của Samuel Smiles; quyển Tự do luận (On Liberty) của John Stuart Mill, hay quyển Tây dương sự tình của Fukuzawa biên soạn nói về văn minh phương Tây. Đó là những con số khủng nếu chúng ta biết rằng dân số của Nhật Bản lúc bấy giờ chỉ khoảng hơn 30 triệu người. Thời Minh Trị, Cty TNHH đầu tiên ra đời là Cty nhập khẩu và kinh doanh sách Maruzen. Sách là nền tảng tri thức để chấn hưng đất nước.

Trong các tác giả phương Tây có lẽ Herbert Spencer (1820-1903) là người có ảnh hưởng lớn nhất lên Nhật Bản Minh Trị. Ông được biết với nhiều đề tài, trong đó có thuyết tiến hoá xã hội Darwin, tức “khôn sống mống chết” nói nôm na hay thích nghi để tồn tại. Điều này dễ hiểu khi vào hậu bán thế kỷ 19 nhiều phần đất trên thế giới tiếp tục rơi vào tay các cường quốc phương Tây, trong đó có Miến Điện và Đông Dương.

Không phải văn hoá đọc của người Nhật bỗng dưng bùng nổ vào thời Minh Trị sau đêm dài phong kiến mà nó có gốc rễ sâu xa từ thời Tokugawa 1600-1868, từ lúc dân tộc này chỉ có văn hoá võ sĩ trên chiến trường, từ lúc thầy tu khoẻ mạnh cũng muốn tra trận để thi thố tài năng tìm hạnh phúc. Cách đây 300 năm Nhật Bản đã có những con số “khủng” về giáo dục và văn hoá đọc, hai thứ có mối liên hệ chặt chẽ nhau.

Trong thời vàng son Genroku (1688-1704) Nhật Bản đã có một hệ thống xuất bản sách hiện đại đáng ngạc nhiên, với nhiều nhà xuất bản lớn, nhà minh hoạ và nhà văn tên tuổi, với số sách bán ra thường lên đến 10.000 bản, một con số “khủng” cách đây 300 năm. Giáo dục thời Tokugawa bùng nổ, với hệ thống trường học phục vụ nhiều đối tượng và đẳng cấp khác nhau: trường Mạc phủ trung ương, trường bang của các đại danh, trường dành cho thường dân nghèo (terakoya), trường tư thục (privat academy) cho samurai lẫn thường dân (shijuku), một loại trường phi đẳng cấp (sẽ được thực hiện rộng rãi vào thời Minh Trị, giống như mô hình trường trung học cải cách của Humboldt đầu thế kỷ 19 tại Đức).

Giáo dục – dịch thuật bùng nổ

Một ngàn năm trước họ đã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ học kẻ thù, mà chỉ sợ vô minh vì không học.

Khi Nhật Bản bắt đầu cuộc duy tân, cả nước đã có 17.000 trường học đủ mọi loại! Hàng triệu người đã được học hành. Đó là những con số khủng tiếp tục của giáo dục của Nhật Bản. “Việc đầu tiên cần thiết cho sự trị vì một nhà nước là năng lực con người. Mà năng lực con người thì đến từ sự học” như học giả Khống giáo nổi tiếng Dazai Jun (1686- 1747) viết.

Vì sao có những con số khủng về giáo dục và văn hoá đọc của một dân tộc vốn là võ sĩ?

Năm 1615 tướng quân Tokugawa Ieyasu, sau khi bình định gần ba trăm bang (han), đã truyền lệnh cho tất cả các đại danh đứng đầu các bang (daimyō), và cho các võ sĩ rằng (Điều 1): “Bun bên tay trái, Bu bên tay phải”. Bun là văn, còn bu là võ, từ đó bushi là võ sĩ, bushido là võ sĩ đạo. Tức “quyển sách bên tay trái, thanh gươm bên tay phải”. Và văn đi trước võ để có sự trị nước lâu bền. Võ sĩ là giai cấp cầm quyền ở Nhật Bản, trở thành giai cấp có học, và rất thấm nhuần văn hoá khổng giáo.

Vì sao có những con số khủng về giáo dục và văn hoá đọc của một dân tộc vốn là võ sĩ?

Mệnh lệnh trên có tác dụng của một “big bang” của văn hoá học và văn hoá đọc sách. Nó được tiếp tục giương cao và nhắc nhở bởi các đời tướng quân tiếp nối. Các đại danh phải học văn hoá, khoa học và nghệ thuật quản lý đất nước. Một đại danh có học phải đọc sách hằng ngày. Để học, họ lập ra các thư viện khắp các bang. Tokugawa là chế độ tự ‘toả quốc’ (sakoku) suốt 260 năm, sau khi họ đuổi hết người truyền giáo phương Tây 1640 (Việt Nam 1630), chỉ chừa một cảng nhỏ Dejima ở Nagasaki để thông thương với Hà Lan là một quốc gia nhỏ phát triển ở châu Âu mà họ biết không thể làm tổn hại độc lập của họ được. Họ kiểm soát nghiêm ngặt việc nhập khẩu sách báo, để tránh sự thâm nhập của Kitô giáo. Nhưng cũng chính trong hai thế kỷ đóng kín đó, qua ngõ Hà Lan, giới trí thức Nhật Bản đã làm được một cuộc dịch thuật vĩ đại, gọi là ‘Lan học’ (Rangaku), để biết rõ sự phát triển khoa học, công nghệ trong cao trào cách mạng công nghiệp đang diễn ra ở châu Âu. Đó là bình minh của nhận thức, giúp cho Minh Trị nhanh chóng thành công.Một sự lặp lại kỳ thú của lịch sử: châu Âu đã từng có cuộc dịch thuật vĩ đại thế kỷ 11 và 12 làm nền tảng phát triển khoa học cho các đại học châu Âu vừa ra đời, thì tương tự ở phương Đông, Nhật Bản cũng đã có cuộc dịch thuật vĩ đại của mình trong hai thế kỷ đóng cửa, giúp chuyển hệ hình tư duy kiểu phong kiến Trung Hoa sang hệ hình khoa học hiện đại phương Tây. Cuộc dịch thuật là khó nhọc và không kém phần nguy hiểm, nhiều nhà Lan học đã phải tự sát trước sự truy bức của chính quyền cảnh sát Mạc phủ, nhưng trí thức Nhật Bản đã thể hiện tinh thần trách nhiệm cao cả của mình đối với quốc gia, rằng họ không thể yêu nước trong sự vô minh, như bác sĩ nổi tiếng Sugita Gempaku (1733-1817) tự biện, người tạo cú hích mạnh mẽ cho Lan học mà sau này nhà khai sáng Fukuzawa đánh giá rất cao.

Tương tự, các nhà lãnh đạo trong chính quyền Minh Trị cũng không thể trị vì đất nước trong sự vô minh. Năm 1882, tức 14 năm sau Phục hồi Minh Trị, thống kê cho thấy có tất cả 2.170 quyển sách tiếng nước ngoài Anh, Pháp, Đức tại các văn phòng chính phủ. Các quan chức lãnh đạo của chính quyền Minh Trị đều là những người có học, trước Khổng học sau Tây học và đọc được tiếng nước ngoài, có người từng du học ở phương Tây. Mạc Phủ cũng đã sớm thành lập văn phòng dịch thuật, cái mà lúc đầu họ gọi là Viện nghiên cứu sách của người man di, có nhiều sách vở nhất, nhiều trí thức đã trưởng thành qua đó, nhanh chóng thay đổi được hệ hình tư duy của mình.

Có một cái ‘khủng’ đáng được nhắc ở đây: tính xã hội cao độ của người Nhật được thể hiện qua sự hy sinh vô cùng lớn của xã hội giúp thanh niên vượt khó trong việc học. Không những người thầy hy sinh cho học trò, mà hầu như cả xã hội đều ra tay giúp đỡ vô vị lợi. Hoàng gia Nhật dành phần lớn thu nhập cá nhân cho giáo dục công đã đành; các đại danh, những người chủ đất giàu có tranh đua với nhau hỗ trợ giáo dục đã đành, mà xuyên suốt mọi tầng lớp xã hội, các thương gia, nhà ngân hàng, nhà sản xuất – tất cả những người giàu có của các giới thương mại và công nghiệp – đều hỗ trợ việc giáo dục sinh viên; các sĩ quan quân đội, công chức, bác sĩ, luật sư, các giới nghề nghiệp, nói tóm lại tất cả đều làm như thế. Đặc biệt các giảng viên, giáo sư đại học tuy với đồng lương khiêm tốn nhưng đã biết “nhường cơm xẻ áo” với sinh viên. Hầu như tất cả các công trình giáo dục bậc đại học được thực hiện ở Nhật Bản, dù có sự giúp đỡ của chính phủ, đều là những kết quả của sự hy sinh cá nhân (Lafcadio Hearn).
…và nay
Mang lửa Prometheus về châu Á

Sự chuyển đổi xã hội Nhật Bản từ phong kiến sang xã hội công nghiệp là công trình trí tuệ của giới trí thức Nhật Bản, hạt nhân của xã hội mới. Họ là những người “khai mông” (keimō). Thứ nhất, họ khêu dậy tinh thần “văn minh và khai hoá” (bummei-kaika). Việc này được thực hiện bởi nhóm “Minh lục xã” (Meirokusha) xung quanh các nhà khai sáng lớn Fukuzawa, Mori, Nishi, Katō, Tsuda, Nakamura, Kanda và Nishimura.

Thứ hai, để tạo sự đồng thuận xã hội, giới trí thức phải bắc được chiếc cầu sống chung giữa Khổng giáo và chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa thực chứng khoa học phương Tây, và với thương mại, như loại hình kinh doanh đã được cường quốc Anh đại diện là sức mạnh tổng hợp của cách mạng công nghiệp và thể chế chính trị dân chủ. Thương mại, vốn đứng hàng cuối cùng trong bậc thang sĩ, nông, công, thương của xã hội khổng giáo phương Đông, nay được bốc lên vị trí hàng đầu như một đức hạnh cao quý. Thương mại là công cụ cần thiết của nghệ thuật lãnh đạo nhà nước để thực hiện trách nhiệm đạo đức khổng giáo của mình đối với nhân dân. Tri thức phương Tây và đạo đức khổng giáo phương Đông có thể sống chung và bổ túc cho nhau.

Một sự kiện có ảnh hưởng lớn lên các nhà lãnh đạo Nhật Bản liên quan đến ý thức về cuộc đấu tranh sinh tồn đang diễn ra gay gắt, khi Đoàn Iwakura là đoàn có sứ mệnh đi tìm khai sáng cho Nhật Bản tại Hoa Kỳ và châu Âu 1871- 73 dừng chân thăm nước Đức. Trong buổi chiêu đãi đoàn ngày 15 tháng 3 năm 1873 tại Berlin, Thủ tướng Bismarck của Đức đã có những lời phát biểu sau đây: Giờ đây các quốc gia trên thế giới tất cả đều tỏ ra thân thiện và lễ phép khi họ giao tiếp nhau, nhưng đó chỉ là bề ngoài. Thực tế đằng sau là ngấm ngầm sự mưu hại lẫn nhau và cuộc đấu tranh giành ưu thế…

Bismarck cho rằng, nước mạnh chỉ tìm cách ức hiếp và bắt nạt nước yếu. Theo ông, một dân tộc chỉ chăm sóc tình yêu quê hương thôi chưa đủ. Nếu không xây dựng được sức mạnh thì đất nước sẽ không giành được sự tôn trọng trên chính trường quốc tế, độc lập chỉ là niềm hy vọng hảo thôi. Những lời nói của Bismarck rót đúng vào trái tim đang khao khát tìm đường khai sáng và quyết tâm sắt đá của các nhà lãnh đạo samurai.

Mori Arinori (1847-1889), Bộ trưởng giáo dục đầu tiên của Nhật Bản Minh Trị, người có công lớn như Wilhelm von Humboldt của Đức, đã thấy trước cuộc đấu tranh sinh tồn của thuyết tiến hoá xã hội đang diễn ra trên thế giới, đang đe doạ chính bản thân dân tộc mình, đã diễn tả sâu sắc ý nghĩa của công việc giáo dục như sau: “Chiến tranh (sensō) không phải chỉ là đánh nhau bằng súng đạn và giết nhau, mà tất cả mọi người Nhật phải được tham gia ngay bây giờ vào cuộc chiến tranh của kỹ năng, kỹ năng của cuộc sống, của công nghiệp, thương mại, tri thức. Và đào tạo thầy giáo phải dựa trên sự chuẩn bị cuộc chiến tranh này. Thua cuộc chiến tranh này là sẽ thua cuộc chiến tranh bằng súng đạn. Đất nước chúng ta phải chuyển dịch từ vị trí hạng ba lên vị trí hạng hai, rồi hạng hai lên hạng nhất; và sau cùng lên đến vị trí hàng đầu trong cộng đồng các quốc gia thế giới. Con đường tốt nhất để thực hiện điều này là đặt nền móng cho giáo dục cơ bản”. Đó là sự tiến hoá xã hội đi lên của Nhật Bản mà các nhà lãnh đạo Minh Trị đã hình dung và kỳ vọng với tất cả quyết tâm.

Biết được văn hoá đọc và giáo dục của Nhật Bản phát triển từ 300 năm trước, chúng ta chắc không còn quá ngỡ ngàng trước sự trỗi dậy mạnh mẽ và đột ngột của Nhật Bản, nhưng vẫn phải cực kỳ ngạc nhiên và ngã mũ nhiều lần trước dân tộc văn hoá này. Darwin nói ở đâu đó, rằng Nhật Bản là một kỳ quan thế giới. Đối với người Nhật, đọc sách là để khai minh, vươn lên bằng thiên hạ. Đọc sách là thuộc tính của một dân tộc văn hoá có ý thức để không ngừng phát triển và hoàn thiện mình. Một ngàn năm trước họ đã học Trung Hoa. Một ngàn năm sau họ học phương Tây. Họ không sợ học của kẻ thù, mà chỉ sợ vô minh vì không học. “Hãy biết kẻ thù” (Tôn Tử). Họ học sớm và học nhiều hơn Trung Hoa là quốc gia đã tiếp xúc với phương Tây cả trăm năm trước họ mà vẫn không học được gì. Họ học mà vẫn giữ được bản sắc, “tổng hợp được văn hoá Đông Tây”, trong khi Trung Hoa chính là nước vứt bỏ truyền thống của mình sau những cuộc cách mạng phiêu lưu. Nhật Bản đã mang lửa văn minh của thần Prometheus về châu Á để thắp sáng cả vùng. Họ đã thành công rực rỡ như một tấm gương sáng chói, và được cả thế giới nể phục.

Ngày nay bài học Nhật Bản không phải đã mất đi giá trị vì nó đã hơn một trăm năm qua. Không. Dân tộc nào biết cầu thị và khiêm tốn sẽ tìm thấy ở tấm gương vĩ đại này những viên thuốc hồi sinh, cũng như chính dân tộc Nhật Bản đã từng tìm được những viên thuốc hồi sinh cho mình ở việc học hỏi Trung Hoa và phương Tây một cách không sĩ diện đễ tiến lên hàng đầu trong cộng đồng các dân tộc tiên tiến.

Theo SGTT

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.