Articles by "tin_chinh"

Hiển thị các bài đăng có nhãn tin_chinh. Hiển thị tất cả bài đăng

ĐỜI NGƯỜI, ĐỜI CHÓ!
Clip người thanh niên vì một ẩn ức đau thương nào đó mà trở nên hận thù, tự tay giết hại những chú chó một cách "dã man" đã tác động rất sâu vào tâm khảm tôi. Nó khiến tôi đau đớn khi phải nhớ lại những ký ức cũ, những kỷ niệm đau buồn mà tôi đã cố gắng quên đi nhưng chẳng thể nào quên được. Đó là ký ức về “cái ác”, về sự vô lương tâm đã hằn sâu vào tâm khảm của một đứa bé 10 tuổi cho đến khi đứa bé ấy 20 tuổi.
Sự sợ hãi đó đã biến một con người mặc dù “đã chớm trưởng thành” vẫn phải trở nên “vô cảm” và đứng yên để chứng kiến một cái ác khác, để rồi về sau này, nó mãi day dứt không nguôi!

"Nỗi đau lan tỏa trong tâm khảm của một đứa trẻ, nó chỉ mới mười tuổi, lần đầu tiên nó cảm nhận được cái buốt và cái nghẹn đắng của kiếp làm chó." Ảnh: minh họa

Chính sách áp đặt buộc dân đi vùng “kinh tế mới” khiến nhiều gia đình phải từ bỏ nhà cửa, bỏ lại chốn phồn hoa đô thị để lên vùng miền núi, miền xa tập khai hoang, làm rẫy và sống đời “bần cố nông” cho cái gọi là tạo lập công bằng xã hội.
Đứa bé gái 3 tuổi bị nhốt một mình trong căn nhà lá mỗi ngày từ sáng đến chiều tối vì tất cả những người lớn trong nhà đều phải lên nương rẫy, và người bầu bạn duy nhất với đứa nhỏ là con chó lông vàng tên gọi là Mino.
Mino không biết lai giống chó gì nhưng rất to con và cực kỳ thông minh. Nó chăm sóc và bảo vệ đứa nhỏ như người anh trai, người bạn chí cốt thời thơ ấu vì Mino lớn hơn đứa nhỏ vài tuổi. Khi đứa nhỏ vừa chào đời, Mino đã là một chú chó to đùng, rất đĩnh đạc và là chứng nhân chứng kiến đứa bé gái đỏ hỏn lọt lòng tại nhà, cho đến khi cô bé biết đi chập chững...Cô bé chẳng chịu cầm tay cha, cô bé cũng chẳng cần tay mẹ mà luôn nắm đuôi Mino để tập bước những bước đi đầu đời. Người ta chỉ nghe thấy bé gái gọi cha gọi mẹ vài lần khi cất tiếng nói đầu đời để rồi sau đó họ chỉ còn nghe thấy tiếng cô nhỏ gọi Mino ơi, Mino hỡi vang vọng trong khắp căn nhà lá, nơi “giam giữ” “hai tù nhân” nhỏ tuổi...
Hai “đứa trẻ” quấn quýt bên nhau từ sáng tới tối, cùng nhau ăn thức ăn mà người lớn đã chuẩn bị sẵn, họ thường để thức ăn trên cái mâm, được che đậy bằng cái lồng bàn vừa tấm tay với của đứa nhỏ.
Tụi nhỏ chỉ chấp nhận cuộc sống “giam hãm” trong căn nhà lá được vài ngày là nung nấu kế hoạch “tẩu thoát”. Bản năng sinh tồn, ưa chạy nhảy của một con chó và bản năng tò mò của một đứa trẻ đã khiến chúng hợp tác và thành công ngoài mong đợi. Công lớn vẫn thuộc về Mino bởi đứa nhỏ 3 tuổi không thể nào suy nghĩ được phương cách tẩu thoát ra khỏi căn nhà lá khi cửa đã đóng chặt, chỉ có Mino là biết cách. Nó dùng 2 chân đào liên tục và mạnh mẽ dưới ngạch của cánh cửa, đất văng tung tóe mỗi ngày, mỗi ngày một ít cho đến khi cái lỗ hình thành…Khi những người lớn trở về nhà, họ rất bực bội khi nhìn thấy “hiện trường”, họ càm ràm, họ răn đe la rầy và vội vàng lấp lại cái lỗ hổng nho nhỏ nhưng, ngày hôm sau trở về họ lại thấy cái lỗ vẫn y xì như cũ, ngày hôm sau cái lỗ lại to hơn ngày hôm trước một chút…điều đó cứ lập đi lập lại đến mức họ mệt và chán chẳng thèm lấp lại cái lỗ đó nữa…Họ hình dung và chấp nhận sự thật đơn giản rằng con chó cần có nhu cầu đi “vệ sinh” bên ngoài chứ không phải là nơi sàn bếp và may mắn là họ đã không thể hình dung cái nhu cầu vui chơi của đứa bé gái con họ để mà kiên quyết lấp lại cái lỗ bằng nhiều cách.
Cái ngày mà Mino có thể dễ dàng chui tọt cái lỗ đó thoát ly ra ngoài, đứa nhỏ bám đuôi theo sau đúng là ngày hội đối với hai đứa . Chúng vui mừng hớn hở y như cái lỗ “chó chui” đó là công trạng và thành quả đầu tiên to lớn nhất trong cuộc đời của chúng. Thế là mỗi ngày, 2 “đứa trẻ” bò ra khỏi nhà khi người lớn vừa ra khỏi và bò vào lại nhà trước khi người lớn về tới…Chẳng hiểu sao Mino có thể đoán trước thời gian để luôn biết dùng miệng ngậm áo đứa nhỏ, lôi kéo nó trở về “cái cửa hang” và cả 2 đều yên vị, rất ư ngoan ngoãn trong căn nhà lá chờ đón chờ người thân trở về. Đối với chúng chẳng có trò nào vui bằng trò nối đuôi nhau chui qua cái lỗ để đến với“thiên đường” bên ngoài căn nhà lá nhỏ. Ở thiên đường đó, chúng có đủ mọi loại niềm vui, chúng trèo cây, hái hoa, hái ớt trước sân nhà và lần nào cô nhỏ cũng khóc ré lên đỏ mặt đỏ mũi, nước mắt lèm nhèm vì nhai ớt nhưng chẳng bao giờ chừa được thú vui dại dột đó.
Hai đứa trẻ có những người bạn, đó là lũ trẻ con trong xóm cũng bị người lớn “bỏ rơi” vì gia đình nào cũng phải lên nương lên rẫy. Cô bé gái nhỏ luôn được Mino chăm sóc và bảo vệ cẩn thận, chỉ cần cô nhỏ mếu máo khóc do bị bạn chèn ép hay bị cào tay, bức tóc là Mino nhảy xổ ra gầm gừ, nó luôn nhe hàm răng trắng ởn như một lời cảnh báo nó sẵn sàng táp ngay lập tức vào đứa nào dám đụng đến cô nhỏ… Chưa bao giờ Mino quên nhiệm vụ bảo vệ và quên đưa mắt canh chừng cô nhỏ!
Khi cô nhỏ tròn 5 tuổi, gia đình dọn về thành phố. Họ bỏ lại những tháng ngày hoang hoải với ruộng đồng, nương rẫy, bỏ lại những bữa cơm độn ngô độn sắn, lũ vịt, bầy gà chí chóe nhung nhúc trong sân, và họ chỉ mang theo Mino.
Thành phố “cướp” đi nhiều trò chơi tuổi thơ của Mino và cô nhỏ. Chúng chẳng còn được “chui lỗ” trốn ra ngoài, chúng thiếu hẳn những trò vui song hành ngày xưa vì cô nhỏ phải đi học mỗi ngày nhưng, cô bé chẳng bao giờ quên ôm hôn chào tạm biệt Mino mỗi sáng và lại ôm hôn vui mừng xoa đầu Mino mỗi khi cô nhỏ rời trường trở về nhà.
Cuộc đời cứ ngỡ sẽ êm đềm trôi qua, cứ ngỡ niềm vui và sự bình an là mãi mãi cho đến khi Mino trở nên già yếu và chậm chạp, nó ăn ít hơn và rụng lông nhiều hơn, cô nhỏ thì quá bận rộn với bạn bè và sách vở, chẳng còn quan tâm và gần gũi Mino như ngày xưa…
Thủa ấy cộng đồng người Bắc vẫn có thói quen ăn thịt chó trong các ngày lễ hỏi, lễ cưới, đám tang, hội hè…Sự nghèo đói khiến người ta chẳng có thứ gì ăn ngon và rẻ bằng thịt chó. Nhà nhà nuôi chó, nhà nhà giết chó đơn giản như giết một con gà, con vịt.
Cái ngày “ông già” họ hàng với gia đình đó qua nhà đứa nhỏ, Mino linh cảm điều gì mà cứ gầm gừ và rên ư ử. Đứa nhỏ đi học về nghe loáng thoáng mẹ nói với ba rằng Mino già rồi, phải giết ngay thôi, nếu để lâu ăn thịt dai nhắt không ngon.
Đứa nhỏ nghe hẫng hụt sâu một cái tận đáy lòng. Nó hoảng hốt, nó lo sợ và hoang mang…nhưng, nó quá nhỏ để chẳng biết phải làm gì! Cuộc sống đơn giản nơi một gia đình đơn giản chẳng cho nó có chút chiều sâu để nhận biết việc phải làm và nên làm, những gì nên nói và cần nói…Sự sợ hãi lấn chiếm và ngự trị trong lòng nó. Đứa nhỏ sợ hãi khi nghĩ phải chống lại cái điều bình thường và rất đỗi “tự nhiên” là thói quen “ăn thịt chó”của gia đình và cộng đồng xung quanh đứa nhỏ.
Một ngày, hai ngày và cái ngày định mệnh đã đến. 7h sáng Chủ nhật đứa nhỏ nghe tiếng Mino kêu la thảm thiết, nó bật chạy ra khỏi giường, chạy xuống bếp thì đã thấy Mino bị tròng đầu bởi sợi dây xích to tướng. Người cầm dây xích là “ông già” hàng xóm.
Lúc ấy chị gái của đứng nhỏ cũng đứng lặng nơi góc bếp, tay vẫn đang run rẩy cầm cái bàn chải đã bôi quệt một dải kem đánh răng. Đứa nhỏ thấy chị mình khóc, khóc nhưng vẫn im lặng, sự im lặng đau đớn và cam chịu. Có điều gì cuộn trào trong lòng đứa nhỏ, dâng lên, dâng lên rồi lại chìm xuống bởi sự sợ hãi, có điều gì đó nó cũng không thể hình dung được.
Nó muốn gào thét, nó muốn lao ra ôm Mino vào lòng, nó muốn cản cái ông già đang chuẩn bị “xử tử” Mino, nhưng không hiểu sao nó chẳng làm gì cả, nó giống như chị nó, chỉ đứng lặng lẽ khóc và khóc. Nước mắt chan hòa trên đôi mắt mở to vì sợ hãi của đứa nhỏ. Cái sợ đã lẫn át tất cả, cái sợ khiến cho nó run rẩy không thể mở to miệng và thét lên cứu lấy người bạn thơ ấu của nó. Nó cứ đứng như trời trồng, một cảm giác chết điếng từ trong trái tim ra bên ngoài thể xác.
Nó nhìn Mino, Mino nhìn nó, ánh mắt con chó già như van xin, như cầu khẩn, ánh mắt đó trong khoảnh khắc kéo nó quay về một trời tuổi thơ nơi căn nhà lá nhỏ và cái lỗ “chó chui” bươi hươi toàn đất là đất!
Con chó già vùng vẫy kịch liệt, bản năng cho nó biết nó sắp chết, nó rống lên từng hồi, nó dùng hết sức để có thể thoát khỏi sợi dây xích đang thắt chặt nơi cuống họng nhưng nó bất lực, nó không hiểu được tại sao cả đời nó cống hiến và sống bằng tất cả tình yêu thương đối với con người để rồi con người cho nó một cái kết cục cuối đời như vậy. Nó van xin cô chủ nhỏ bằng ánh mắt, nước mắt nó tuôn rơi không khác chi cô nhỏ, nó chờ đợi sự “phản kháng của cô bé” nhưng hoàn toàn là im lặng, hoàn toàn là bế tắc và nó hiểu, nó không tru nữa, thôi vùng vẫy, nó chỉ còn có thể mở to mắt nhìn cô chủ nhỏ, nó thấy nước mắt của cô nhỏ, nó thấy vị mặn chát của “kiếp chó”, chắc trong khoảnh khắc đó nó hiểu được cái giá của loài người khác xa cái giá của loài vật.
Nó hiểu được sự hy sinh không có nghĩa là sẽ được đền đáp, nó hiểu sự trung thành không có nghĩa là được cứu mạng. Nó chỉ còn cơ hội chào tạm biệt người bạn tri kỷ bằng ánh mắt, bằng nước mắt của loài chó. Rất tiếc nước mắt của loài động vật cấp thấp không đủ sức làm lay chuyển “loại động vật” cấp cao và cả một trời thơ ấu của nó với cô bạn không đủ là sức mạnh để người tri kỷ của nó lăn xả vào cứu nó.
Ông già bắt đầu vung cái “chày” to nhất mà ông kiếm được, ông bổ từng nhát mạnh vào đầu con chó, tiếng “bốp, bốp” vang lên, tiếng vỡ tan của xương sọ, tiếng “bốp” làm tung tóe cái không khí im lặng và đau đớn, tiếng “bốp” làm nổ tung và đâm thẳng hàng ngàn mũi kim vào lòng con bé.
Nó đau đớn như bị trúng đạn, những phát súng đã nhắm trúng tim, trúng vào óc và làm vỡ nát tất cả sự bình yên, bầy huầy trong lòng nó là những ký ức đã bị vỡ tan hoang đang pha trộn bởi sự ám ảnh. Tất cả nỗi đau đớn, nỗi oán hận như dồn lại vào giây phút cuối khi nó nhìn vào mắt “người bạn thân thiết nhất” của nó. Nó ước nó được thét gào, nó ước thời gian có thể quay ngược trở lại. Nó cầu xin ông trời bắt nó tỉnh dậy để biết rằng nó vừa trải qua một cơn ác mộng.
Nỗi đau lan tỏa trong tâm khảm của một đứa trẻ, nó chỉ mới mười tuổi, lần đầu tiên nó cảm nhận được cái buốt và cái nghẹn đắng của kiếp làm chó. Nó bắt đầu biết căm thù, sự căm thù đầu tiên là căm hận chính bản thân mình. Nó đã hèn yếu, nó hèn hạ đến mức không thể giơ tay, không thể mở miệng để bảo vệ người bạn của nó. Và nó căm thù người lớn, căm thù sự vô cảm của những con người đã không thấu cảm được sự mất mát đau đớn của một đứa trẻ. Nỗi đau đó theo mãi con bé, làm vỡ tung quãng trời tuổi thơ và ám ảm cả quãng đời còn lại của nó!
Con chó già nằm đó, mắt nó vẫn mở trừng trừng nhìn cô chủ nhỏ, từng dòng máu đỏ chảy loang ướt cái sàn bếp, loang tới tận những giấc mơ thảng thốt của cô nhỏ từng đêm và có lẽ là mãi mãi!




Nông dân Đoàn Văn Vươn sẵn sàng ‘nổi dậy’ nếu tiêu cực tái diễn

Tóm tắt:

- Năm 2012, Ông Đoàn Văn Vươn bị chính quyền dùng quân đội và công an để cưỡng chế đất đai. Ông và gia đình đã dùng vũ khí tự tạo đánh trả quyết liệt.
- Ông Đỗ Hữu Ca và Dương Tự Trọng chỉ huy việc cưỡng chế đất đai. Dùng lực lượng quân đội và công an để chống lại người yếu thế, nhưng Ông Đỗ Hữu Ca thuê người viết sách ca ngợi bản thân đã chỉ huy trận đánh đẹp. Hiện tại, Ông Dương Tử Trọng - giờ đã chính thức được gọi là tội phạm - đang thụ hình 2 án hơn 17 năm tù.
- Quốc khánh Việt Nam 2/9/2015, Ông Đoàn Văn Vươn được chính quyền thả, sau hơn 3 năm giam cầm. Ngày trở về Ông được chào mừng như người thắng cuộc, báo chí ngầm đưa tin xem đây là chiến thắng của chính nghĩa. 
- Trả lời phỏng vấn Đài Tiếng Nói Hoa Kỳ (VOA), Ông Đoàn Văn Vươn khẳng định đã làm đúng, không ân hận việc đã làm và tuyên bố sẵn sàng tiếp tục ‘đứng lên’ trước áp bức, bất công.

Nhận định:

- Xã hội Việt Nam đang trải qua giai đoạn Tư Bản Mông Muội, thời Mark và Engel ra học thuyết chủ nghĩa xã hội. Vậy có thể tạm kết luận Việt Nam đang đi sau các nước tư bản phát triển hàng trăm năm.

Chi tiết:

Trà Mi
VOA 07.09.2015

Một nông dân nổi tiếng vừa được đặc xá nhân dịp Quốc khánh 2/9 tuyên bố sẵn sàng tiếp tục ‘đứng lên’ trước áp bức, bất công.

Ông Đoàn Văn Vươn được trả tự do hôm 31/8 sau hơn 3 năm rưỡi thi hành bản án 5 năm tù về tội danh ‘giết người’ và ‘chống người thi hành công vụ.’

‘Người nông dân nổi dậy’ Đoàn Văn Vươn được mọi người biết tiếng từ vụ án gây chú ý công luận về chính sách trưng thu đất đai của Việt Nam khi ông cùng gia đình dùng vũ khí tự tạo chống trả lực lượng cưỡng chế đất ở huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) hồi đầu năm 2012, khiến 6 nhân viên công lực bị thương.

Kết thúc vụ án, 6 thành viên trong gia đình ông Vươn bị bắt và bị khởi tố; một số cán bộ địa phương bị đình chỉ công tác, bị cách chức, và được hưởng án treo.

Vụ án Đoàn Văn Vươn được xem là đỉnh điểm xung đột đất đai xuất phát từ những bất cập về luật và chính sách thi hành luật đất đai tại Việt Nam. Vụ này thu hút sự quan tâm của dư luận với nhiều bạn trẻ đã khởi xướng các cuộc vận động thỉnh nguyện thư đòi trả tự do cho ông.

Trò chuyện với Tạp chí Thanh Niên VOA ngày ra tù, người được mệnh danh là ‘anh hùng áo vải’ Đoàn Văn Vươn nói ông không hối tiếc về việc đã làm vì đó là điều cần thiết giúp phơi bày ra ánh sáng những bất công-áp bức và ông nhấn mạnh sẽ không ngần ngại lặp lại hành động của mình nếu tái diễn tiêu cực.

Bản thân tôi đã vận dụng hiến pháp và pháp luật Việt Nam để khiếu nại-tố cáo và làm hết tất cả những việc có thể. Tôi cũng đã khởi kiện ra tòa và được tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Hải Phòng giải quyết bằng thỏa thuận giữa hai bên. Ủy ban huyện Tiên Lãng đã chấp nhận, tiếp tục giao lại đất cho tôi và tôi rút lại đơn kháng cáo. Nhưng sau đó, người ta bất chấp pháp luật, ép tôi phải bàn giao đất. Tôi không chấp nhận và họ đã tổ chức lực lượng cưỡng chế để áp đặt. Tôi không còn con đường nào khác nữa. Nếu như phải chết, nằm tại đất này và phải xông lên. Từ tiếng súng, tôi đi tìm công lý.
Ông Đoàn Văn Vươn nói.

Đoàn Văn Vươn: Khi chấp hành được 1/3 mức án, cải tạo từ khá trở lên sẽ được đặc xá, tha tù trước thời hạn.

Trà Mi: Một trong những điều kiện không thể thiếu để được đặc xá là làm đơn ‘nhận tội’, ‘xin khoan hồng.’ Ông có làm việc này không?

Đoàn Văn Vươn: Cái đấy bắt buộc phải làm. Nếu không làm, không được giảm án, không được đặc xá.

Trà Mi: Như vậy cuối cùng ông đã phải ‘nhận tội’ dù việc này trước đây tại tòa ông đã cương quyết từ chối?

Đoàn Văn Vươn: Vâng.

Trà Mi: Vì sao ông thay đổi quan điểm của mình?

Đoàn Văn Vươn: Khi tôi vào vòng lao lý, mong mỏi lớn nhất là làm sao sớm được trở về cùng gia đình. Không còn con đường nào khác ngoài việc phải chấp nhận những điều kiện họ quy định.

Trà Mi: Ngay từ buổi đầu khi ra tòa, chắc ông cũng biết nếu ‘nhận tội, xin khoan hồng’ sẽ được mức án nhẹ hơn. Vì sao lúc đó ông cương quyết từ chối?

Đoàn Văn Vươn: Tại tòa, quan điểm của tôi rất rõ. Tôi khẳng định hành vi của chúng tôi không phải là ‘giết người’ hay ‘chống người thi hành công vụ.’ Chúng tôi đã đưa ra những chứng cứ nhưng tòa hoàn toàn bác bỏ. Khi chấp hành án, trong cả một quá trình rất dài đều nung nấu một điều là làm sao sớm được trở về. Cho nên, không còn con đường nào khác, buộc phải chấp nhận. Đây là buộc phải chấp nhận. Kể cả bây giờ đã được về rồi, tôi vẫn còn muốn phải đấu tranh việc này cho rõ ràng.

Trà Mi: Ông nghĩ mình sẽ làm bằng cách nào?

Đoàn Văn Vươn: Theo pháp luật Việt Nam, việc kháng cáo, khiếu nại, hay giám đốc thẩm thì kể cả khi mình đã chấp hành xong bản án mình đều có quyền đòi hỏi việc này.

Trà Mi: Ông quyết định sẽ kháng cáo?

Đoàn Văn Vươn: Tôi sẽ đề nghị giám đốc thẩm việc này để giải quyết cho ‘thấu tình đạt lý’. Về tội danh người ta đưa ra là ‘giết người’ với khung hình phạt từ 12 năm tới chung thân hay tử hình, nhưng người ta chỉ xử tôi 5 năm vì đã có những áp lực và có kết luận của Thủ tướng rằng hành vi làm trái (của chính quyền địa phương) là nguyên nhân gây nên. Tuy mức án 5 năm, nhưng với tôi, xử tôi về tội ‘giết người’ là không đúng vì tôi chỉ phòng vệ chính đáng.

Trà Mi: Báo chí Việt Nam nói vụ việc xảy ra năm đó do gia đình ông ra tay trước, rằng lực lượng thi hành công vụ chưa ra tay đã bị tấn công. Thực hư ra sao?

Đoàn Văn Vươn: Chúng tôi đã cảnh báo trước khi người ta xuống cưỡng chế bất hợp pháp chúng tôi. Đầm nhà tôi có 2 quyết định giao đất và 2 quyết định thu hồi đất. Trong đó chỉ có quyết định thu hồi 19,3 hecta được giải quyết ở cấp tòa và người ta ra quyết định cưỡng chế ở khu đất 19,3 hecta này. Chúng tôi không hề tổ chức chống lại việc cưỡng chế ở diện tích 19,3 hecta mà chúng tôi tổ chức để bảo vệ giữ lại khoảng đất 21 hecta chưa bị áp dụng theo quyết định cưỡng chế.

Trà Mi: Hôm đó, bên nào ra tay trước thưa ông?

Đoàn Văn Vươn: Trên diện tích 21hecta chưa có quyết định cưỡng chế, chúng tôi đã rào để cảnh báo cấm không cho người đi lại. Họ đưa lực lượng cưỡng chế có cả cảnh sát cơ động, súng ống, chắn đạn v..v.. Họ xuống rất hùng hồn. Họ yêu cầu giao đất, chúng tôi dứt khoát không chấp nhận. Lúc đó chúng tôi chỉ đặt cảnh báo đầu tiên là mìn tự chế và vỏ bình gas không có gas, không xảy ra thương tích nào cho ai cả. Bản thân tôi đã qua bộ đội công binh, tôi hiểu và tính toán được là có thể kiềm chế được. Mục đích chúng tôi đánh dọa, tạo tiếng vang để cảnh báo thôi. Thế nhưng người ta không dừng lại. Quân đội và công an tiến hành nổ súng, bắn thẳng vào nhà mà bên trong người thân chúng tôi đang ở trong nhà. Chúng tôi vẫn cứ nằm ém, nhưng người ta bước tiếp tới hàng rào cảnh báo cuối cùng, cách 18 mét. Người ta tháo phá hàng rào. Người ta nổ súng, tiếp tục nổ súng và phá hàng rào. Không còn con đường nào nữa, chúng tôi buộc phải nổ súng để chống trả.


Buộc những nông dân như chúng tôi phải đứng lên làm những việc này thật sự là một điều vô cùng tai hại. Bản thân tôi và tất cả dân Việt Nam đều không muốn. Người ta đẩy chúng tôi vào tỉnh cảnh buộc phải đứng dậy. Từ vụ việc nhà tôi, tôi khẳng định nếu không dám ra tay thì mất hết. Buộc phải lựa chọn con đường: phải đứng lên, phải chống trả quyết liệt.
Nông dân Đoàn Văn Vươn.

Trà Mi: Cho dù bên công lực bắn trước nhưng họ không gây thương tích cho ai trong khi tiếng súng nhà ông Vươn gây thương tích cho lực lượng thi hành công vụ. Cho nên, họ buộc ông tội ‘giết người’, ông nghĩ sao?

Đoàn Văn Vươn: Người ta sử dụng vũ khí quân lực. Nếu viên đạn của họ hôm đó trúng người thân nhà tôi thì chắc chắn chết. Còn chúng tôi chống trả lại bằng súng hoa cải và đạn 1,5 li chỉ bắn được chim, nếu bắn vào người chỉ ở mức gây bị thương nhất định, không thể gây tử vong. Ở khoảng cách 18-20 mét, tôi khẳng định với súng hoa cải mà tôi đã bắn vào lực lượng đấy không thể gây chết người.

Trà Mi: Vụ việc xảy ra là một cú sốc vì chưa từng xảy ra ở Việt Nam. Ông Vươn nghĩ gì khi ra tay hành động như thế?

Đoàn Văn Vươn: Bản thân tôi đã vận dụng hiến pháp và pháp luật Việt Nam để khiếu nại-tố cáo và làm hết tất cả những việc có thể. Tôi cũng đã khởi kiện ra tòa và được tòa phúc thẩm Tòa án Nhân dân Hải Phòng giải quyết bằng thỏa thuận giữa hai bên. Ủy ban huyện Tiên Lãng đã chấp nhận, tiếp tục giao lại đất cho tôi và tôi rút lại đơn kháng cáo. Nhưng sau đó, người ta bất chấp pháp luật, bất chấp bản thỏa thuận thay cho một bản án của tòa và ép tôi phải bàn giao đất. Tôi không chấp nhận và họ đã tổ chức lực lượng cưỡng chế để áp đặt. Tôi không còn con đường nào khác nữa. Nếu như phải chết, nằm tại đất này và phải xông lên. Từ tiếng súng, tôi đi tìm công lý. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ được như thế vì nếu không giữ được đất, cả gia đình tôi không thể sống được, bị mất hết toàn bộ, không còn cái gì nữa.

Trà Mi: Ông nói lúc đó, ông ‘chỉ nghĩ được như thế’ nhưng giờ đây, sau bao nhiêu năm nhìn lại những gì phải trả giá cho hành động lúc đó, ông có hối tiếc-ân hận không hay cảm thấy đó là điều cần phải làm?

Đoàn Văn Vươn: Tôi hoàn toàn không hối hận, không ân hận. Việc này cần thiết phải làm. Nếu không làm thì không những vụ của tôi mà còn kéo theo hàng loạt những vấn đề liên quan đến quyền lợi của những người nông dân khác, những người dân Việt Nam cũng sẽ cùng cảnh ngộ như thế này. Nếu tiếp tục xảy ra như tương tự, tôi cũng sẽ sẵn sàng.

Trà Mi: Kết cục câu chuyện có đúng như những gì ông dự tính?

Đoàn Văn Vươn: Trước khi tôi ra tay, bản thân chỉ nghĩ rằng sẵn sàng chết ngay để chiến đấu với lực lượng cưỡng chiếm bất hợp pháp này. Nếu mình có phải hy sinh thì đây cũng là một tiếng vang, một lời cảnh tỉnh cho chính phủ Việt Nam, cho dư luận lên tiếng để nhà nước Việt Nam phải vào cuộc để làm rõ và yêu cầu chính quyền huyện Tiên Lãng rút lại các quyết định thu hồi đất. Đó là mong muốn và mục đích tôi làm việc này. Mong muốn đó cho tới giờ mới được đáp ứng một phần nào. Thứ nhất, chính phủ Việt Nam cũng đã kết luận việc làm trái và yêu cầu huyện Tiên Lãng rút lại các quyết định thu hồi đất. Trước mắt, người ta chưa làm thủ tục nhưng cũng đã giao lại cho gia đình nhà tôi quản lý, sử dụng. Tôi cũng đã tiếp tục khởi kiện, yêu cầu Ủy ban nhân dân huyện Tiên Lãng phải bồi thường các thiệt hại do các quyết định hành chính của họ gây ra.

Trà Mi: Nếu ngày hôm đó ông không ra tay, ông có nghĩ kết cục sẽ khá hơn kết cục ngày hôm nay chăng?

Đoàn Văn Vươn: Nếu hôm đó tôi không ra tay, toàn bộ tài sản của nhà tôi sẽ mất trắng và gia đình nhà tôi chắc sẽ không sống nổi đến ngày hôm nay.

Trà Mi: Trong vụ việc này, ông Vươn thấy ông được và mất những gì?

Đoàn Văn Vươn: Cái được của tôi là giữ được tài sản hợp pháp, được dư luận trong và ngoài nước cùng những người yêu chuộng công lý trên thế giới ghi nhận. Cái mất là tôi và người thân lâm vào vòng lao lý và toàn bộ tài sản khi họ tổ chức cưỡng chế. Ngôi nhà họ đã bồi thường. Còn những tài sản lưu động khác, như trang thiết bị phục vụ nghề tôm cá, đều bị thiệt hại. Từ thông báo của họ không cho tôi đầu tư sản xuất từ năm 2007 mà phải đội đơn đi khiếu kiện một thời gian dài, những thiệt hại đó rất lớn.

Trà Mi: Kết cục vụ việc: người nông dân ở tù, quan tham bị mất chức. Cách giải quyết của phía chính quyền trong vụ việc này, ông thấy thế nào?

Đoàn Văn Vươn: Giải quyết như thế là chưa thấu tình đạt lý. Phi lý ở chỗ người ta là những người chức trách, thừa biết việc này là sai trái mà vẫn cố tình làm. Thế nhưng tòa án bỏ qua và cho họ hưởng án treo. Trong khi đó, chúng tôi là những người phòng vệ, bảo vệ chính đáng tài sản của mình lại bị bắt đi tù.

Trà Mi: Đi tìm công lý ôn hòa không được giải quyết. Cùng đường phải dùng tới bạo lực-bạo động thì mới được giải quyết. Điều đó cho ông suy nghĩ thế nào?

Đoàn Văn Vươn: Buộc những nông dân như chúng tôi phải đứng lên làm những việc này thật sự là một điều vô cùng tai hại. Bản thân tôi và tất cả dân Việt Nam đều không muốn. Người ta đẩy chúng tôi vào tỉnh cảnh buộc phải đứng dậy. Từ vụ việc nhà tôi, tôi khẳng định nếu không dám ra tay thì mất hết. Buộc phải lựa chọn con đường: phải đứng lên, phải chống trả quyết liệt.

Trà Mi: Với chính sách đất đai tại Việt Nam hiện nay, rất nhiều người đã đang và sẽ lâm vào tình cảnh của ông, ông muốn chia sẻ điều gì với họ?

Đoàn Văn Vươn: Mình phải am hiểu pháp luật, phải dũng cảm đứng lên kiên quyết đấu tranh để bảo vệ chân lý.

Trà Mi: Với giới hữu trách, ông có điều gì muốn nói?

Đoàn Văn Vươn: Tôi muốn nói rằng tất cả những người thực thi pháp luật hãy thực hiện đúng theo những gì pháp luật quy định. Tôi chỉ mong muốn họ làm công tâm, xứng đáng làm công bộc cho người dân Việt Nam như khẩu hiệu của nhà nước từng nói.

Trà Mi: Còn về luật đất đai của Việt Nam, ông Vươn thấy thế nào?

Đoàn Văn Vươn: Cho đến nay tương đối có thay đổi nhưng còn nhiều bất cập. Hiến pháp có nhiều những từ chung chung, cần tách bạch rõ ràng. Ví dụ điều 67 Luật Đất đai năm 2003 nói rằng ‘cho dân thuê đất không quá 20 năm.’ Những người áp dụng luật, nếu bảo 1 năm thì cũng ‘không quá 20 năm’ mà bảo 20 năm thì cũng ‘không quá 20 năm.’ Nó khiến cho các cấp chính quyền địa phương tùy tiện áp dụng, dẫn tới mâu thuẫn, tranh chấp.

Trà Mi: Đất đai ở Việt Nam theo mô hình xã hội chủ nghĩa nghĩa là dân có quyền sử dụng nhưng quyền sở hữu thuộc về nhà nước. Việt Nam đi từ mô hình phong kiến qua xã hội chủ nghĩa với ý tưởng cho ‘dân cày có ruộng’. Nhưng xét cho cùng, với mô hình xã hội chủ nghĩa, dân cày dù có ruộng nhưng ruộng cũng không phải của họ, cũng chỉ là một hình thức họ làm thuê mà thôi. Ông nghĩ sao?


Tôi hoàn toàn không hối hận, không ân hận. Việc này cần thiết phải làm. Nếu không làm thì không những vụ của tôi mà còn kéo theo hàng loạt những vấn đề liên quan đến quyền lợi của những người nông dân khác, những người dân Việt Nam cũng sẽ cùng cảnh ngộ như thế này. Nếu tiếp tục xảy ra như tương tự, tôi cũng sẽ sẵn sàng.

Ông Vươn nói.Đoàn Văn Vươn: Chính cái đó là mấu chốt rất vướng cho đất đai Việt Nam. Luật Đất 1987 ghi rằng đất đai sở hữu của nhà nước. Đến 1993, khái niệm đó được đổi thành đất đai là sở hữu toàn dân do nhà nước đại diện làm chủ sở hữu, nhà nước có đặc quyền giao đất và thu hồi đất.

Trà Mi: Có người cho rằng tư hữu hóa đất đai là một giải pháp tốt. Là một nông dân, ông Vươn thấy giải pháp này thế nào?

Đoàn Văn Vươn: Tư hữu đất đai là gốc của mọi vấn đề. Mô hình đó sẽ khẳng định những người có đất có những quyền được bảo đảm chắc chắn hơn là quyền sử dụng đất.

Trà Mi: Khép lại mọi chuyện đã qua, ông Vươn thấy từ đây ông sẽ bắt đầu thế nào khi mà đất đai vẫn có nguy cơ có thể bị tịch thu bất cứ lúc nào?

Đoàn Văn Vươn: Sắp tới, tôi phải tiếp tục đầu tư để khai thác, thu hồi những công sức và vốn liếng đã bỏ ra đầu tư. Còn sợ hay không, tôi không sợ gì cái việc đó.

Trà Mi: Vì ông không nghĩ họ sẽ tái diễn hành động đó với ông?

Đoàn Văn Vươn: Tôi cũng chưa dám khẳng định họ có tái diễn hay không. Nhưng nếu họ cố tình làm trái các quy định của luật pháp thì buộc cũng phải đứng lên.

Trà Mi: Có người xem ông là ‘anh hùng áo vải’, nhưng cũng có người gọi ông là thành phần ‘chống đối’, ‘bạo động’. Một định nghĩa về mình, ông Vươn sẽ nói gì?

Đoàn Văn Vươn: Không dám nhận mình là ‘anh hùng áo vải.’ Mọi người ủng hộ tôi, tôi rất cảm ơn. Còn bảo tôi là ‘chống đối’, ‘bạo động’ là sai hoàn toàn và họ hiểu lầm. Hành động của tôi để thức tỉnh các cấp chính quyền ở Việt Nam xem xét lại những người mà họ chọn làm thi hành công vụ, làm cán bộ phục vụ công bộc cho dân. Phải xem xét lại và chỉnh đốn lại. Tôi chỉ muốn nói một điều là người nông dân hãy mạnh dạn làm ăn và dám đấu tranh để bảo vệ thành quả, đất đai, và các tài sản hợp pháp được luật pháp Việt Nam quy định.

Trà Mi: Cảm ơn ông rất nhiều đã dành thời gian cho cuộc trao đổi này.

Đoàn Văn Vươn: Cảm ơn quý đài đã quan tâm đến tôi và gia đình tôi.


Vào đầu thập niên Tám mươi, ông Ted Schweitzer là người Mỹ đầu tiên đã cập bến vào một đảo sào huyệt hải tặc và mục kích chuyện 238 thuyền nhân Việt Nam bị đắm ghe, dạt vào đấy. Có 80 người bị giết, tất cả các phụ nữ đều bị hãm hiếp và buộc khiêu vũ khỏa thân cho chúng xem. Ông Schweitzer can thiệp yêu cầu họ chấm dứt tấn tuồng vô nhân đạo này thì bị bọn cướp xúm lại đánh đập đến như đã chết. Thật may mắn mà ông còn sống sót để thuật lại. Khi tỉnh lại, ông thấy trước mắt những cánh tay, đùi chân còn rải rác đây đó. Đấy, bằng chứng có vụ ăn thịt người.

Khi quân đội Hoa Kỳ thất trận tháo lui, không còn ai muốn ở lại Việt Nam nữa. Những người thuộc giới cha chú đã được các bạn Mỹ chở đi trước, sót lại những kẽ bất hạnh thì chỉ còn bám víu vào những con thuyền mong manh hướng vịnh Thái Lan. Trên những chuyến vượt biên này họ đã xuất kỳ bất ý viết lại những mẩu chuyện có thật về hải tặc thuộc thế kỷ 20.

Hoàn cảnh vào thời đó rất thuận lợi cho bọn cướp của giết người trên biển cả, còn hơn những chuyện hải tặc trong lịch sử thế giới. Dân chài xứ Thái rất nghèo túng, luôn luôn tìm cơ may kiếm thêm chút tiền còm. Trong khi chính quyền cộng sản Việt Nam làm ngơ trước cơ sự, thì chính phủ Thái lại không muốn đón nhận những đợt tàu chở thuyền nhân ngày càng đông thêm. Không mấy ai quan tâm đến những lời tường thuật về vụ hải tặc. Chỉ đến khi những vụ cướp bóc giết người quá tàn nhẩn dã man xảy ra, và lại còn phải chịu áp lực quốc tế và Hải quân Hoa Kỳ thì chính phủ Thái mới cho mở vài vụ điều tra. Đến lúc đó thì hàng ngàn thuyền nhân đã bị cướp, hảm hiếp, giết chết trên biển cả. Sau đây là một vài vụ cướp bể đã được điều tra:

Cô Nguyễn Phan Thúy cùng với mẹ, dì và người em gái đã bỏ tiền ra mua chổ trên tàu để vượt trốn. Sau mười ngày lênh đênh trên biển cả, tàu bị mắt cạn, hết nước, hết cái ăn. Hải tặc đến bắn chết người dì. Một ông già có răng vàng bị chúng lấy kìm vặn khỏi miệng. Một người đàn bà đang có bầu bị chúng ném xuống biển. Các người sống sót bị chúng lột hết quần áo, xua cả lên bờ, và tầu bị nhận chìm. Chúng bắt các phụ nữ xếp hàng. Cô Thúy cùng một cô gái khác tên Liên bị chúng lựa ra rồi đưa sang chiếc thuyền đánh cá của chúng. Suốt ba tuần lễ sau đó, hai cô liên tiếp bị hảm hiếp. Cô Liên chịu không nổi, bị chúng chán rồi vứt cô xuống biển; còn cô Thúy thì chúng đem bán cho một động mải dâm trong làng mang tên là "Phòng đấm bóp nơi thiên đường". Ở đây cô mang thai và vị người ta lấy một que tre trục bào thai ra. Cuối cùng cô thoát được và được cơ quan Cứu Trợ Liên Hiệp Quốc tiếp nhận.

Năm 1989, một chiếc ghe chở 84 thuyền nhân bị hải tặc đến cướp. Tất cả đàn bà và trẻ con bị chuyển qua thuyền hải tặc và từ đó không còn nghe một tin gì về số phận họ nữa. Những người đàn ông thì bị nhốt dưới khoang tầu rồi, từng người một, chúng lôi lên đập cho đến chết. Sau cùng, những người còn lại liều mình sấn vào bọn cướp thì tầu hải tặc nhào đến đâm vào tầu thuyền nhân cho chìm đi, Một số người cố thoát liền bị chúng dùng cây sào nhận chìm xuống nước. Còn lại 13 người thoát chết nhờ bơi ra xa và được bóng đêm che phủ.

Vào tháng 4 năm 1989, có bảy tên hải tặc trang bị súng ống, đao búa đến tấn công một chiếc tầu nhỏ chở 129 thuyền nhân. Tất cả đàn bà đều bị hảm hiếp, đàn ông bị sát hại, trừ một người tên là Phạm ngọc Man Hung (hình chụp ảnh đang nhận diện các tên hải tặc). Anh này sống sót nhờ bám được vào một chiếc bè kết thành bởi ba xác chết.

Cuối cùng chính phủ Thái bị Cơ quan Cứu Trợ Quốc Tế cưởng bách tìm biện pháp đối phó. Các tầu đánh cá phải đăng ký và số đăng ký phải ghi rõ bằng chữ lớn ngay mủi tầu. Các tầu đều phải được chụp hình lúc ra khơi và lúc về cảng. Biện pháp này đã khiến nhiều hải tặc ngã lòng, lo sợ, nhưng những bọn còn lại bèn trở nên tàn nhẫn, hung dữ hơn trước! Chúng thủ tiêu hết mọi nhân chứng để không còn một ai nhận diện được chúng nữa.

Người thuyền trưởng dũng cảm

Sáng ngày 23 tháng 6 năm 1979, thuyền trưởng Cees Hoek của tàu De Neddrill 2 nhìn thấy một chiếc thuyền con đã gần như muốn chìm bám sát vào mạn tàu. Chiếc thuyền này tuy nhỏ bé, nhưng đem theo thân phận của hơn 300 thuyền nhân đã hoàn toàn kiệt sức, mình mẩy của họ khi ấy nhơ nhúa vì ói mửa trộn lẫn với phân và nước tiểu. Một trong những thuyền nhân trên con thuyền xấu số ấy là bà KHANG. Bà kể là một tuần trước đó bà đã cùng chồng bà bốn cậu con trai lên chiếc thuyền mang số LA9127 này tại cảng Vũng Tàu. Hơn 300 người, đa số là phụ nữ và trẻ em, ngồi như cá hộp trên chiếc thuyền chỉ dài có 14 thước, được công an tổ chức cho đi bán chính thức. Suốt chuyến đi, bà chỉ có chỗ chỉ đủ để ngồi xổm, ôm cậu con trai út trong lòng. Hồi tưởng lại về những ngày ấy, bà nói: "Chúng tôi chẳng cần biết mình sẽ đi đến chốn nào. Chỉ cần làm sao có được tự do là đủ rồi".

Khi ấy, tàu De Neddrill 2 đang neo ở vùng gần bờ biển Việt Nam để làm công tác khoan dầu cho một công ty liên doanh Việt Nam và Đức. Trên tàu của thuyền trưởng Hoek, là người Hòa Lan, cũng có cả vài người Việt có nhiệm vụ theo dõi mọi hoạt động trên tàu. Chính những người Việt này đã phản đối thuyền trưởng Cees Hoek khi ông định cứu những thuyền nhân và cũng chính là đồng bào của họ. Trong lúc thuyền trưởng Hoek tranh cãi với những 'công an' đội lốt nhân viên Việt Nam này, thì thuyền LA9127 bất ngờ chìm nghỉm. Mọi người trên thuyền thất kinh, vội vã tìm cách thoát ra khỏi con thuyền xấu số này. Thủy thủ đoàn đã vội vã tiếp cứu họ bằng phao cứu cấp và ca nô, nhưng không tài nào cứu được tất cả mọi người. Một thuyền viên Hòa Lan trên tàu là ông Beekman kể là ông không có cách nào hơn là phải móc mũi nhiều người mới lôi họ được lên tàu, vì họ đã quá kiệt sức, không tài nào chộp lấy cánh tay ông. Số người ngoi ngóp dưới biển nhiều quá, đến nỗi ông phải chọn cứu người này, mà không kịp cứu người kia. Bà KHANG khi ấy cũng văng xuống biển, nhưng sau đó may mắn được vớt lên tàu Hòa Lan. Trong khoảng khắc kinh hoàng ấy, chẳng may cậu con trai út của bà bị thất lạc. Những thủy thủ trên tàu đã phải xót xa chứng kiến cảnh gần 80 thuyền nhân phải chết đuối. Hình ảnh kinh hoàng này sau nhiều năm vẫn in đậm trong tâm trí họ.

Sau khi vớt được số thuyền nhân này lên tàu, thuyền trưởng Hoek phải chịu áp ức nặng nề của đám 'công an' Việt Nam trên tàu. Bọn này đòi thuyền trưởng Hoek phải trao trả ngay những thuyền nhân này cho chính quyền VN. Thế nhưng thuyền trưởng Hoek một mực không chịu. Trong lúc ấy, công an biên phòng VN còn đưa tàu có súng máy đến kèm sát tàu để uy hiếp. Nhưng thuyền trưởng Hoek đã ra lệnh không cho một ai có vũ khí lên tàu. Nếu không nghe lời ông, thì ông sẽ có biện pháp. Thủy thủ đoàn dưới quyền thuyền trưởng Hoek lúc ấy cũng rất tức giận bọn công an VN, họ sẵn sàng ra tay bảo vệ thuyền nhân, nhất là sau khi họ chứng kiến thảm cảnh mấy mươi thuyền nhân phải bị chết đuối trước mắt mình.

Sau đó trước sự cứng rắn của phía Đức và Hòa Lan, phía VN phải nhượng bộ, cho phép phía Đức và Hòa Lan mua một chiếu tàu trị giá 300.000 đô la ở Vũng Tàu để chở những thuyền nhân đã được cứu vớt, một lần nữa đến bến bờ tự do. Con tàu mới này mang số hiệu VT999.

Đoạn Kết của Bi Kịch Thuyền Nhân Người Việt

Cuối cùng, làn sóng người tị nạn Việt Nam bằng đường biển đã viết lên thiên bi sử của thuyền nhân, và những câu chuyện hãi hùng của các cuộc vượt biển của người tị nạn Việt Nam đã đánh động được lương tâm thế giới. Vào tháng Ba 1979, chương trình Ra Đi Có Trật Tự (ODP) ra đời để cố gắng ngăn chặn những làn sóng vượt biển. Ngoài ra, cũng vào thời gian này, các chương trình cứu người vượt biển đã được một số tổ chức thiện nguyện quốc tế phát động hai chiếc tàu cứu vớt thuyền nhân ngoài biển là Anamur do một tổ chức từ thiện Đức Quốc vận động vào năm 1979 L’Ile de Lumiere của tổ chức từ thiện Pháp Medecins du Monde điều hành vào năm 1980 đã cứu mạng được nhiều thuyền nhân Việt Nam lênh đênh ngoài biển cả trong khoảng thời gian từ 1979 cho đến 1990.

Đoạn kết thúc nhân đạo được khởi từ những sự kiện sau đây: Tin tức thời sự loan báo ba thuyền tỵ nạn với 443 người mới đến Hồng Kông bị cảnh sát Macao kéo ra biển khơi gặp trận bão Hope chết không còn người nào. Nhưng người Việt vẫn tiếp tục ra đi. Riêng tháng 5 và 6, năm 1979 đã có 110 ngàn người vượt biển. Bão tố, hải tặc và các tàu viễn dương không cứu vớt đã làm cho số người đến các trại vào tháng 7 chỉ còn 22 ngàn người. Không những các tàu buôn dân sự làm ngơ mà ngay cả tàu chiến của Mỹ trên Thái Bình Dương cũng không cứu thuyền nhân. Xót đau vì cùng máu đỏ, da vàng, người Việt ở Mỹ và khắp nơi kéo về Hoa Thịnh Ðốn thắp nến cầu nguyện trước Bạch Cung.

Nước mưa hòa trong nước mắt nhỏ giọt xuống những ngọn nến lung linh. Những linh mục và những thượng tọa đi lại đọc kinh suốt đêm. Từ cửa sổ trên lầu của Bạch Cung, Tổng Thống Jimmy Carter đã nhìn thấy tất cả thảm kịch biển Ðông. Lòng người từ nhân thúc dục – Lệnh từ Phủ Tổng Thống Hoa Kỳ được ban hành. Bộ An Sinh và Xã Hội sẽ nhận cấp khoản Tỵ Nạn Việt Nam vào Mỹ từ 7 ngàn nay tăng lên 14 ngàn một tháng. Bộ Quốc Phòng ra lệnh cho Ðệ Thất Hạm Đội dành riêng năm tuần dương hạm để cứu vớt thuyền tỵ nạn. Tất cả các chiến hạm đều phải cứu thuyền nhân hoặc tiếp tế rồi báo tin cho các con tàu trách nhiệm khác.

Bức hình gây chấn động báo giới Hoa Kỳ với tựa đề “Lên tàu” do một thủy thủ chụp được trên chiến hạm USS White Plan Tháng 7 năm 1979. Đấy là hình ảnh một người đàn ông Việt Nam được vớt đang leo lên thang dây bên mạn tàu với tất cả hành trang của gia đình trong túi vải cắn chặt trong miệng. Cuối năm 1979 tin tức về tàu Mỹ vớt người tỵ nạn bay về Việt Nam, cả Sài Gòn lên cơn sốt. Nhà nhà vượt biển, người người vượt biển. Ðó cũng là năm cuối cùng của thập niên 70 với người phụ nữ có bầu cũng ra đi, sanh trên tàu Mỹ, đặt tên con theo tên tàu có khai sanh công dân Hoa Kỳ do thuyền trưởng ký.

Tổng Thống Jimmy Carter, còn đi xa hơn một bước nữa. Nhân dịp hội họp với Thủ Tướng Do Thái Bergin, vị nguyên thủ Mỹ đã đưa ra vấn đề thuyền nhân Việt Nam. Thủ Tướng Bergin nồng nhiệt đáp ứng: “Nước Do Thái đã có những kinh nghiệm riêng về vụ việc này. Năm 1939, trước khi thế chiến đệ nhị bùng nổ, con tàu The St. Louis chở 900 dân Do Thái trốn khỏi Ðức Quốc đã bị xua đuổi trên khắp mọi hải cảng. Không một nước nào nhận. Ngày nay tuy chúng tôi là một nước nhỏ, mới lập quốc nhưng sẵn sàng chào đón thuyền nhân Việt Nam”. Tháng 10 năm 1979, một tàu Do Thái trên đường đi Nhật đã cứu được 60 thuyền nhân. Thuyền trưởng nói rằng các bạn phải cảm ơn Carter. Tính đến nay, dù là quốc gia sống giữa vùng Trung Ðông khói lửa sôi động, Do Thái cũng có cả ngàn thuyền nhân Việt Nam lập nghiệp.

Năm 1981, Tổng Thống Carter mãn nhiệm kỳ, đến năm 1988 có một thuyền trưởng chiến hạm USS Dubuque trên đường qua Trung Ðông đã gặp con tàu vượt biên ra đi từ Bến Tre với 110 người ngày 22 tháng 5-1988. Sau nhiều giông bão, gặp nhiều tàu đại dương nhưng không được cứu, đến ngày thứ 19 gặp tàu chiến Mỹ thì thuyền nhân hoàn toàn kiệt quệ. Hạm trưởng không hề biết lệnh của Tổng Thống Hoa Kỳ 8 năm về trước nên ông chỉ tiếp tế nước và thực phẩm nhưng không vớt. Con thuyền Bến Tre trôi dạt trên đại dương trước sau tổng cộng 37 ngày, chỉ còn sống 52 người sau khi đã ăn thịt những người khác.

Tàu đánh cá Phi cứu vớt con thuyền Bến Tre khốn khổ đưa về đảo Bolinao. Ông Hạm trưởng chiến hạm USS Dubuque phải ra tòa quân sự của hải quân vì không làm tròn bổn phận. Nạn nhân còn lại của thảm kịch Bolinao phải ra tòa làm nhân chứng. Tên hòn đảo hoang trên Thái bình Dương với 52 người còn sống. Sống bằng thân xác của gia quyến và đồng loại. Bolinao 52 chỉ là một trong hàng ngàn thảm kịch khác đã xảy ra mà chúng ta không bao giờ biết hết. Nếu như không có một người như Jimmy Carter vào những ngày cuối thập niên 70 niềm đau thương của biển Ðông còn chất ngất đến chừng nào.

* Lịch sử thuyền nhân VN đau đớn đến vậy. Nhưng CSVN ko thừa nhận chúng gián tiếp gây ra, và việc chúng ngăn cản ng dân xuất cảnh theo đường chính thống đã dẫn đến những thảm cảnh này. Ngày nay hễ ai nhắc đến thuyền nhân VN là CSVN chối bỏ và gieo rắc vào đầu những ng dân VN trong nước rằng thuyền nhân là những ng vượt biên phản quốc. Những bia, tượng tưởng niệm thuyền nhân ở các nước Philippin, Malaysia, Indonesia thì bị CSVN tìm moi cách phá bỏ, đập đục như 1 cách chối bỏ tội ác...

Nguồn http://www.vietboatpeoplememorialgta.com/2015/07/13/noi-long-thuyen-nhan-40-nam-tham-tham-doan-truong-cua-boat-people/


Hôm qua, trên đường từ Rạch Giá về quê, tôi chú ý đến một cái pano trước cổng trường tiểu học gần Minh Lương mà tôi xem là lạ, vì nó nói lên kiểu làm giáo dục bằng tuyên truyền. Đó là tấm biển chữ đỏ trên nền xanh, đọc là "Học để hoàn thiện bản thân", và phía dưới dòng chữ là "Hãy động viên con em đến lớp". Chỉ cần nhìn qua dòng chữ đó người ta cũng có thể đoán được ở vùng này đang có tình trạng học trò bỏ trường.

Cái dòng chữ "học để hoàn thiện bản thân", công bằng mà nói chẳng có gì sai, nhưng tôi vẫn thấy hình như nó không hợp cảnh. Đối với học trò tiểu học thì cái khái niệm hoàn thiện bản thân là cái gì đó xa lạ, làm sao các em có thể hiểu được. Thật ra, ngay cả bậc cha mẹ ở vùng quê này chưa chắc đã hiểu khái niệm trừu tượng đó. Tôi thậm chí còn nghĩ rằng người viết khẩu hiệu đó chưa chắc hiểu họ muốn nói gì và chuyển tải thông điệp gì. Tại sao họ không nghĩ đến một thông điệp hay một câu văn nào cho thật dễ hiểu, dễ đi vào lòng người nông dân, mà lại chọn cái câu trừu tượng như thế. Thật ra, nếu suy nghĩ cho kĩ thì câu đó chẳng chuyển tải một thông tin gì cả.

Chỉ cần nói chuyện với vài phụ huynh ở vùng quê là tôi có thể biết được tình trạng học trò bỏ học và hiểu thêm tại sao bỏ học. Tôi không có con số cụ thể về số học trò bỏ trường, nhưng chỉ đếm qua một số gia đình chung quanh nhà tôi, thì ước tính có thể lên đến 10%, đặc biệt là ở người Khmer và những gia đình nghèo khó. Có em học đã đến lớp 5 rồi, học đàng hoàng, mà gia đình đành phải rút về làm ruộng. Có gia đình thì dùng chiến lược ưu tiên, và tiêu chuẩn ưu tiên là dựa vào trai hay gái, hoặc khả năng học hành. Đứa nào học giỏi thì được cho học tiếp, đứa nào học dở thì rút về nhà giúp việc. Tình trạng này chắc chắn sẽ tạo ra một sự bất ổn trong xã hội trong tương lai.

Không chỉ học sinh tiểu học, mà ngay cả đại học cũng có người bỏ học, tuy con số thấp hơn. Có một trường hợp thú vị: một em gốc Khmer học giỏi, thi đậu vào 3 trường đại học (2 đại học ở Sài Gòn và 1 ở ĐH Cần Thơ), nhưng cuối cùng thì giấc mơ đại học cũng đành phải bỏ. Ba má em ấy lí giải rằng: học để làm gì, nhìn quanh số sinh viên tốt nghiệp đại học thất nghiệp tùm lum cả, mà ngay cả xin được việc thì cũng cần đến 500 triệu đồng đút lót thì làm sao nhà có khả năng lo nổi. Tôi kinh ngạc về con số 500 triệu đồng (tức là 25000 đôla), nên phải hỏi lại cho chắc ăn, thì bà con đều khẳng định đó là con số tiêu biểu, có trường hợp thấp hơn nhưng cũng có trường hợp cao hơn. Tình trạng mua chức đâu phải chỉ ở ngoài Bắc, mà đang lan về nông thôn miền Tây rồi đấy.

Tại sao bỏ học? Tôi chỉ cần trò chuyện với một số bà con chòm xóm là có thể biết được nguyên nhân, và một trong những nguyên nhân chính là … nghèo. Nghèo vì thiếu tiền để đóng học phí, để đóng vào hàng tá quĩ mà cái hệ thống giáo dục này nó nghĩ ra để móc túi người dân. Một em học trò lớp 2 phải đóng cho nhà trường khoảng 1.2 triệu đồng mỗi năm, số tiền này kể cả bảo hiểm (chẳng biết bảo hiểm gì). Thật ra, tiền bảo hiểm còn cao hơn cả tiền học phí. Đó là chưa kể tiền đóng góp vào những quĩ của trường, và thường là đóng hàng tuần hoặc hàng tháng. Tuy tiền đóng cho quĩ không nhiều, nhưng cộng nhiều quĩ lại cũng lên đến con số khoảng 500 ngàn đồng mỗi năm. Rồi đến lớp cao hơn, mỗi em học sinh phải đóng tiền "phụ đạo" khoảng 300 ngàn mỗi 3 tháng (vị chi là 1.2 triệu mỗi năm). Như vậy, một em học sinh phải "cúng" cho nhà trường (hay Nhà nước) tối thiểu 1.7 triệu đồng, nếu cỡ lớp 5 trở đi thì mỗi năm phải tốn ~3 triệu đồng. Nếu gia đình có 2 con, thì con số có thể lên đến 3.5 triệu đồng (tối thiểu).

Như tôi từng nói trước đây, con số vài triệu đồng đối với người thành thị thì có lẽ không nhiều, nhưng ở vùng quê thì là cả một gia tài. Đại đa số người dân miệt quê làm ruộng, mà cũng không nhiều nhu trước 1975. Thời VNCH, mỗi gia đình có thể có tối thiểu 10 công đất, thì nay con số đó chỉ 5 công, giảm phân nửa. Làm ruộng ngày nay là một cuộc đấu tranh sinh tồn với thiên nhiên. Đủ thứ đe doạ trực chờ người nông dân, từ nước phèn (ngập mặn), đến sâu rầy, tất cả đều có khả năng làm cho một vụ mùa mất trắng. Một số thiên tai là do chính các quan chức du nhập từ nước ngoài, đặc biệt là Tàu cộng, vào (ví dụ như ốc bưu vàng). Để chống trả, người dân phải dùng đến thuốc hoá học đắt tiền. Để dùng thuốc hoá học thì phải vay tiền từ ngân hàng. Đến mùa làm xong ra hạt lúa thì bị bọn gian thương chèn ép giá cả. Bọn gian thương lớn nhất, dã man nhất, vô cảm nhất, và đáng phỉ nhổ nhất chẳng ai khác hơn là Vinafood! Đây là tập đoàn của Nhà nước, cái tên này đã từng được Gs Võ Tòng Xuân và báo chí vạch mặt là bọn làm cho nông dân nghèo. Cho dù có bán được lúa cho chúng, thì sau khi bán là bị ngân hàng đến đòi nợ. Trả nợ xong xuôi đâu đó cả gia đình có thể chỉ còn dư độ 5-10 triệu đồng. Rồi lại vay nợ để làm vụ kế tiếp, để rồi cái chu kì nợ - chèn ép – trả nợ - nghèo lại tiếp tục.

Thử hỏi một người nông dân dành dụm được số tiền 5-10 triệu đồng làm sao có khả năng lo chuyện học hành cho con cái. Đó chính là lí do tại sao nhiều em học trò ở nông thôn bỏ học. Học sinh ở nông thôn bỏ học đâu phải vì họ không muốn "hoàn thiện bản thân", mà vì họ không có tiền để đóng cho nhà trường. Có trớ trêu không khi một nhà nước nhân danh "xã hội chủ nghĩa" mà học trò phải đóng tiền học phí còn (tương đối) cao hơn cả ở những nước tư bản mà có thời nhà nước này cho rằng họ ác ôn và bóc lột. Viết đến đây làm tôi nhớ đến một bài viết trong cuốn "Báo Tuổi Trẻ đã viết" (mới xuất bản năm nay nhân kỉ niệm 40 năm thành lập báo), trong đó ông cận vệ chủ tịch Hồ Chí Minh (nay là thiếu tướng) viết về một chuyến đi thăm một người nghèo ở Hà Nội, và ông HCM thốt lên ".. Người nghèo còn nhiều. Một đảng cầm quyền mà để người dân mình nghèo hết còn chỗ để nghèo thì đó là lỗi của đảng với nhân dân …", rồi ông giảng thêm: "Làm cách mạng là phải lo cái ăn, cái ở và sức khoẻ của dân." Câu này ổng nói đã 45 năm trước, nhưng xem ra cho đến nay vẫn chưa thành hiện thực.

Làm sao thành hiện thực khi mà ngay cả làm giáo dục dựa vào tuyên truyền. Thật ra, cái gì ở VN cũng làm theo phong trào và tuyên truyền. Tai nạn giao thông tăng? Biện pháp là tăng cường tuyên truyền và "giáo dục" dân chúng. Sâu bọ hoành hành đồng ruộng? Tuyên truyền. Học sinh bỏ học? Tuyên truyền. Tuyên truyền thì chỉ cần cái pano hay vài câu ngớ ngẩn là xong, ai muốn hiểu sao thì hiểu, chứ có hiệu quả gì đâu. Cuối cùng, tôi nghĩ mấy người làm giáo dục ở đây cũng chỉ làm cho có, nhưng chắc gì họ nghĩ đến hiệu quả. Và hệ quả là người dân lãnh đủ, học sinh bỏ học vì nghèo, và Nhà nước mang danh XHCN không làm tròn nhiệm vụ cao cả đối với cộng đồng dân tộc.

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=1484400658539722&set=a.1385818691731253.1073741828.100009094052648&type=1

Chiều cao trung bình của nam thanh niên Việt Nam là 164 cm, thua 8 cm so với Nhật và 10 cm so với Hàn Quốc. Vóc người thấp bé nhẹ cân có thể cải thiện nhờ chế độ dinh dưỡng hợp lý.

Trong 30 năm qua, người Việt cao lên, nhưng rất chậm, 10 năm chỉ cao thêm được một cm. Chiều cao của nữ giới cũng rất thấp, gần 154 cm.

“Dù tốc độ tăng chiều cao rất ít, nhưng đem đến tia hy vọng người Việt thấp bé nhẹ cân không phải thuộc tính di truyền mà có thể cải thiện được. Bằng chứng là Thái Lan, Trung Quốc đã cải thiện tầm vóc nhờ dinh dưỡng hợp lý”, tiến sĩ Lê Bạch Mai, Phó viện trưởng Viện Dinh dưỡng quốc gia Việt Nam cho biết tại buổi họp báo sáng 8/10 nhân Tuần lễ dinh dưỡng và phát triển (15-23/10).

Theo tiến sĩ Mai, người Việt hiện thấp nhất khu vực châu Á. Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy việc phát triển chiều cao của trẻ phụ thuộc vào di truyền 20%, còn dinh dưỡng, rèn luyện thể thao và môi trường chiếm 80%. Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng sự phát triển chiều cao như: khẩu phần ăn thiếu hụt dinh dưỡng trong thời gian dài; môi trường sống không sạch sẽ; trẻ dễ mắc các bệnh tiêu chảy, hô hấp...

Thiếu vi chất dinh dưỡng, hay mắc bệnh, khẩu phần ăn thiếu canxi... đều ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao của trẻ. Ảnh minh họa: Văn Nguyễn. 

Thực tế, bữa ăn truyền thống của người Việt đã thay đổi, đầy đủ hơn nhưng không cân đối. Nhu cầu tiêu thụ nước ngọt, nước ngọt có ga ngày càng nhiều. "Một số ý kiến cho rằng nước ngọt có ga không ảnh hưởng đến sức khỏe, điều này là không đúng. Nước ngọt có ga gồm nước ngọt (đường) cộng với ga là CO2", tiến sĩ Mai phân tích.

Nước ngọt, bên cạnh lượng đường tự nhiên trong thực phẩm, thường được ép thêm đường glucose hoặc fructose. Những loại đường này cung cấp kcal dễ dàng. Một lon nước ngọt có đến 36 đường. Theo công bố trên nhãn của nhà sản xuất, 100 ml nước ngọt thì tạo ra 42 kcal.

“Vấn đề là hiếm có người tiêu dùng nào chịu đọc dòng chữ nhỏ li ti trên nhãn. Bên cạnh đó, không ai mua một lon nước chỉ uống 100 ml mà phải uống hết. Điều đó đồng nghĩa một lon nước hơn 300 ml cung cấp gần 140 kcal, trong khi phải mất đến 45 phút đi bộ mới có thể tiêu thụ được 100 kcal”, tiến sĩ Mai nói.

Vị chuyên gia cũng cho rằng, loại đồ uống này khiến cơ thể mất canxi. Nước ngọt vào cơ thể, vi khuẩn trong miệng lên men thành axit ăn mòn canxi trong răng. Nước ngọt có ga còn gây hại lớn hơn vì phân tử CO2 sục vào nước tạo thành H2CO3 - axít cacbonic. Để trung hòa môi trường này, cơ thể rút canxi trong xương, răng, sau đó thải ra ngoài qua nước tiểu.

“Khẩu phần ăn của người Việt hàng ngày đã thiếu canxi, nay lại mất canxi theo nước tiểu, làm chậm tăng chiều cao, loãng xương. Vì thế, tôi cho rằng cần đánh thuế tiêu thụ đặc biệt với nước ngọt, nước có ga để giảm ảnh hưởng đến sức khỏe; giữ lại phần canxi ít ỏi để phát triển chiều cao, tăng mật độ xương”, tiến sĩ Mai đề nghị.

Để cải thiện chiều cao của người Việt, điều quan trọng là cần có những can thiệp dinh dưỡng hợp lý theo chu kỳ vòng đời. Cụ thể, từ khi mang thai, người mẹ cần được bổ sung đủ chất, đủ dinh dưỡng, đa dạng để ngăn ngừa việc sinh ra những trẻ nhẹ cân, thấp. Tiếp theo đó là việc nuôi dưỡng trẻ thật tốt trong 3 năm đầu đời, trẻ được bú sữa mẹ sớm, hoàn toàn trong 6 tháng đầu, chế độ dinh dưỡng hợp lý, ít mắc bệnh...

Ngoài ra, tỷ lệ trẻ thừa cân, béo phì ở Việt Nam cũng tăng 9 lần sau 10 năm - hiện là 6,3%. Mục tiêu kiểm soát dưới 5% của chiến lược dinh dưỡng quốc gia không đạt được.

Nam Phương
http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/chieu-cao-nguoi-viet-thap-nhat-chau-a-3090659.html


Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học.

Nói một cách trung thực nhất thì thực ra, tôi chưa bao giờ học đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra trong cuộc đời tôi. Chỉ như vậy thôi, không có gì to lớn, chỉ đơn giản là ba câu truyện.

Câu chuyện thứ nhất là về việc kết nối những dấu chấm

(Connecting the dots – nối những dấu chấm từ hàng vạn cái chấm hỗn độn - để thấy con đường mình sẽ phải đi)

Tôi đã bỏ học chỉ sau sáu tháng theo học trường cao đẳng Reed, tôi lưu lại đó tạm thời trong vòng 18 tháng nữa trước khi tôi chính thức rời trường Reed.

Tại sao tôi lại bỏ học?
Tôi đã bắt đầu điều đó khi tôi mới được sinh ra. Mẹ ruột của tôi là một nữ sinh viên trẻ, độc thân và bà đã quyết định cho tôi đi làm con nuôi. Bà thực sự muốn tôi được làm con nuôi của những người đã tốt nghiệp đại học. Vì thế, tất cả mọi chuyện đã được sắp đặt để tôi trở thành con nuôi của một cặp vợ chồng luật sư. Tuy nhiên, tất cả chuyện đó đã bị thay đổi ở phút cuối cùng khi tôi vừa cất tiếng khóc chào đời, họ đã đổi ý và muốn nhận một đứa bé gái làm con nuôi chứ không phải tôi.

Chính vì thế, bố mẹ nuôi của tôi hiện giờ đã nhận được một cú điện thoại vào lúc nửa đêm hỏi có muốn nhận tôi, một đứa bé trai được sinh ra không mong đợi, làm con nuôi hay không. Bố mẹ tôi đã trả lời rằng tất nhiên rồi. Tuy nhiên, sau đó, mẹ ruột của tôi biết được mẹ nuôi tương lai của tôi chưa tốt nghiệp đại học và bố nuôi của tôi chưa tốt nghiệp trung học, bà đã từ chối ký vào giấy tờ giao nhận con nuôi. Một vài tháng sau bà mới đồng ý khi bố mẹ nuôi của tôi hứa sẽ cho tôi đi học đại học.

17 năm sau, tôi cũng vào đại học, nhưng tôi đã rất ngây thơ khi chọn một trường đại học danh giá ngang hàng với Stanford. Tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi đã phải dành để đóng học phí cho tôi. Sau sáu tháng, tôi chẳng thấy được ích lợi gì của việc học đại học. Tôi chẳng có một câu trả lời nào về việc tôi sẽ làm gì với cuộc đời của mình và cũng chẳng tin rằng trường đại học có thể giúp tôi trả lời câu hỏi đó. Tôi đã tiêu tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi dành dụm phòng khi về hưu vào trường đại học. Vì vậy tôi đã quyết định bỏ học và tin tưởng rằng rồi mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi. Tại thời điểm đó, mọi việc dường như có vẻ rất khó khăn nhưng khi nhìn lại, tôi lại thấy rằng đó là một quyết định đúng đắn nhất của tôi. Giây phút mà tôi bỏ học, tôi đã từ bỏ những môn học mà tôi không hề thích, thay vào đó, tôi bắt đầu tìm hiểu những môn học khác có vẻ như thú vị hơn rất nhiều.

Mọi chuyện không diễn ra nhẹ nhàng một chút nào. Tôi không có phòng trọ vì thế, tôi phải ngủ nhờ dưới sàn nhà trong phòng trọ của các bạn tôi. Tôi kiếm tiền mua đồ ăn bằng 5$, tiền công trả lại các chai Coca-cola và mối tuần tôi đi bộ 7 dặm qua phía bên kia thành phố để có được một bữa ăn ngon ở trại Hare Krishna. Tôi rất thích những món ăn ở đó. Sau này, tôi mới biết được rằng những gì mà tôi đã phải trải qua khi cố gắng theo đuổi niềm đam mê của mình là vô giá. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho các bạn:

Có lẽ ở thời điểm đó, trường Reed là trường duy nhất của cả nước giới thiệu nghệ thuật viết chữ đẹp. Ở tất các các khu học xá, tất cả các poster, tiêu đề của tất cả các tranh vẽ đều được viết tay rất đẹp. Vì tôi đã thôi học và không phải tham gia vào những khóa học bắt buộc thông thường nên tôi đã quyết định tham gia khóa học nghệ thuật viết chữ đẹp. Tôi học cách viết các chữ có nét ở chân, những biến đổi về khoảng cách giữa các nét chữ, học cách trình bầy một bản in lớn sao cho đẹp. Tôi nhận thấy rằng đây là một môn học mang tính nghệ thuật, lịch sử và đẹp một cách tinh vi mà khoa học không thể làm được.

Những thứ đó dường như chẳng có ý nghĩa thực tế gì cho cuộc sống của tôi. Tuy nhiên, 10 năm sau này, khi chúng tôi đang thiết kế thế hệ đầu tiền của máy tính Machintosh, tất cả những điều đó dường như lại trở lại với tôi và chúng tôi đã thiết kế để cài đặt tất cả những mẫu chữ đó vào máy tính, Machintosh là máy tính đầu tiên có những mẫu chữ nghệ thuật rất đẹp. Nếu như tôi không tham gia vào khóa học đó ở trường thì Mac sẽ chẳng bao giờ có nhiều phông chữ như vậy. Kể từ khi Windows copy những mẫu chữ đó của Mac thì không có một máy tính cá nhân nào không có những phông chữ đó. Nếu tôi không bỏ học và không tham gia vào khóa học viết chữ đẹp thì tất cả các máy tính cá nhân bây giờ có thể chẳng có được chúng. Tất nhiên là khi tôi đang ở trường đại học thì tôi không thể kết nối những điểm mốc đó khi nó còn đang ở tương lai phía trước. Nhưng 10 năm sau thì những điều đó rất, rất rõ ràng.

Một lần nữa tôi muốn nói với các bạn rằng, chúng ta không thể biết những điểm mốc có nối kết với nhau trong tương lai không, các bạn chỉ có thể biết những điều đó khi nhìn lại mà thôi. Vì thế, các bạn hãy tin tưởng rằng, theo một cách nào nó, những điểm mốc sẽ nối kết với nhau trong tương lai của bạn. Các bạn cũng cần phải tin vào một số thứ khác như: sự quyết tâm, vận mệnh, cuộc sống, nhân quả hoặc bất cứ cái gì. Phương pháp đó chưa bao giờ làm tôi thất vọng và nó đã tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của tôi.

Câu chuyện thứ hai của tôi là về tình yêu và sự mất mát.

Tôi đã rất may mắn khi tôi đã muốn bắt đầu làm việc từ rất sớm. Woz và tôi đã bắt đầu những trang đầu tiên cho lịch sử của Apple trong gara của bố mẹ tôi khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ để sau 10 năm, từ chỗ chỉ có 2 người, trong cái gara bé nhỏ, Apple đã phát triển thành một công ty trị giá 2 tỷ đô la Mỹ với hơn 4000 nhân viên. Một năm trước đây, chúng tôi vừa mới bỏ đi sáng tạo đầu tiên của mình, máy tính Macintosh và tôi vừa mới bước sang tuổi 30. Sau đó, tôi bị sa thải. Làm sao mà bạn lại có thể bị sa thải bởi một công ty mà bạn đã sáng lập ra nó ? Oh, khi mà Apple đã phát triển lớn hơn, tôi đã thuê một người mà tôi đánh giá là có khả năng cùng tôi lãnh đạo công ty.

Khoảng một năm gì đó, tình hình có vẻ rất khả quan. Nhưng sau đó, quan điểm của chúng tôi về tương lai bắt đầu khác nhau, thậm chí chúng tôi còn trở nên bất hòa. Khi có mối bất hòa đó xẩy ra giữa chúng tôi, hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, và tôi, ở tuổi 30, đã bị sa thải một cách rất rõ ràng. Những điều mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời đã biến mất, chúng đã bị phá hủy.

Trong một vài tháng, tôi đã thực sự chẳng biết phải làm cái gì. Tôi cảm giác rằng mình đã làm cho những thế hệ đi trước tôi thất vọng và rằng tôi đã đánh rơi lá cờ khi nó đã được chuyền đến tay tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi cho việc cư xử không hay của mình. Tôi đã thua một cách rõ ràng và thậm chí, tôi đã có ý định bỏ cuộc. Nhưng có một cái gì đó bắt đầu chậm chậm sáng lên trong tôi. Tôi vẫn rất yêu quý những gì tôi đã tạo ra. Sự việc xẩy ra ở Apple có thay đổi tình yêu đó một chút nhưng trong tôi, tình yêu ấy vẫn còn. Chính vì thế, tôi đã quyết định bắt đầu lại.

Ngay lúc đó tôi không nhận thấy, nhưng sau này, tôi mới biết rằng việc tôi bị Apple sa thải hóa ra lại là một việc tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Gánh nặng của sự thành công đã được thay thế bằng ánh sáng của sự bắt đầu mới tuy không có điều gì chắc chắn. Tôi đã để cho mình tự do bước vào một quãng đời đầy những sáng tạo của cuộc đời mình.

Trong khoảng 5 năm sau đó, tôi đã bắt đầu xây dựng công ty NeXT và một công ty khác tên là Pixar. Tôi gặp và đã yêu một người phụ nữ tuyệt vời, chính là vợ tôi sau này. Pixar đã sáng tạo ra phim truyện hoạt hình máy tính đầu tiên trên thế giới, câu chuyện đồ chơi. Hiện tại, nó đã trở thành xưởng phim hoạt hình thành công nhất trên thế giới. Một sự kiện thay đổi đáng ghi nhớ đã xẩy ra khi Apple mua NeXT, tôi trở lại Apple, những kỹ thuật mà NeXT đã phát triển trở thành nguồn sinh khí cho thời kỳ phục hồi của Apple.

Tôi và Laurene cũng có một gia đình hạnh phúc.

Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tất cả những điều đó sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Đó là một viên thuốc đắng nhưng tôi chắc bệnh nhân sẽ rất cần đến nó.

Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn. Nhưng hãy đừng mất lòng tin. Tôi biết chắc chắn rằng, điều duy nhất đã giúp tôi tiếp tục bước đi chính là tình yêu của tôi dành cho những gì tôi đã làm. Các bạn phải tìm ra được cái các bạn yêu quý. Điều đó luôn đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc sẽ chiếm phấn lớn cuộc đời bạn và cách duy nhất để thành công một cách thực sự là hãy làm những việc mà bạn tin rằng đó là những việc tuyệt vời. Và cách để tạo ra những công việc tuyệt vời là bạn hãy yêu việc mình làm. Nếu như các bạn chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng bỏ cuộc bởi vì bằng trái tim bạn, bạn sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Và cũng sẽ giống như bất kỳ một mối quan hệ nào, nó sẽ trở nên tốt dần lên khi năm tháng qua đi. Vì vậy hãy cố gắng tìm kiếm cho đến khi nào bạn tìm ra được tình yêu của mình, đừng từ bỏ.

Câu chuyện thứ ba của tôi là về cái chết.

Khi tôi 17 tuổi, tôi đã đọc được một câu châm ngôn như sau: Nếu bạn sống mỗi ngày đều như ngày cuối cùng của cuộc đời mình, một ngày nào đó bạn sẽ hoàn toàn tin tưởng rằng bạn đã đúng. Câu châm ngôn đó đã để lại ấn tượng rất sâu trong tôi và kể từ đó, trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi buổi sáng và tự hỏi mình: nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời tôi, tôi sẽ muốn làm gì và tôi chuẩn bị làm gì hôm nay? Và nếu trong nhiều ngày, câu trả lời vẫn là “không” thì tôi biết, tôi cần phải thay đổi điều gì đó.

Suy nghĩ rằng mình sắp chết chính là điều quan trọng đã động viên tôi tạo ra cơ hội lớn cho cuộc đời mình. Bởi vì tất cả mọi điều từ sự kỳ vọng của mọi người vào bạn, tất cả mọi niềm tự hào cho đến nỗi sợ phải đổi mặt với sự xấu hổ hay thất bại, tất cả sẽ biến mất khi bạn phải đổi mặt với cái chết. Khi đó, chỉ còn lại điều gì thực sự quan trọng.Ý nghĩ rằng chúng ta đang đối mặt với cái chết, khi chúng ta sắp chẳng còn gì nữa, là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh khỏi việc chúng ta cảm thấy sợ hãi khi sắp đánh mất đi thứ gì đó.

Chẳng có lý do gì để bạn không lắng nghe sự mách bảo của trái tim mình.

Khoảng một năm trước đây tôi đã bị chẩn đoán là bị ung thư. Tôi đã chụp cắt lớp lúc 7:30 sáng và trên phim hiện rõ ràng một khối u trong tuyến tụy. Thậm chí tôi chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Các bác sỹ nói với tôi rằng đây là một dạng của ung thư và bệnh này không chữa được, rằng tôi nên chuẩn bị tinh thần mình sẽ chỉ sống được từ 3 đến 6 tháng nữa thôi. Bác sỹ của tôi khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại các công việc của mình, đó là cách họ nói khi khuyên bệnh nhân chuẩn bị cho cái chết. Điều đó có nghĩa là hãy về và sử dụng mấy tháng còn lại để nói với các con bạn những gì mà bạn dự định sẽ nói với chúng trong khoảng mười năm tới. Điều đó cũng có nghĩa là hãy cố gắng kín đáo để gia đình bạn có thể chấp nhận điều này một cách dễ dàng hơn. Điều đó có nghĩa là bạn hãy nói lời vình biệt.

Tất cả mọi ngày tôi đều sống với sự chẩn đoán đó. Sau đó, vào một buổi tối, tôi tiến hành kiểm tra sinh thiết, họ đút một cái ống qua cổ họng tôi, luồn sâu xuống dạ dày, sâu xuống ruột, ấn một cái kim vào tuyến tụy của tôi để lấy mẫu một số tế bào của khối u. Khi đó, tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi, người có mặt lúc đó đã kể với tôi rằng khi các bác sỹ phân tích những tế bào đó dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện ra rằng đây là một trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng cách phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.

Đó là cảm giác mà tôi đã có khi phải đối mặt với cái chết và tôi cũng hy vọng tôi sẽ còn cái cảm giác đó một vài thập kỹ nữa. Khi đã từng trải qua điều đó, tôi có thể nói với các bạn một cách chắn chắn hơn là chỉ đơn thuần nhắc đến cái chết như là một điều hữu ích nhưng chỉ hoàn toàn là một nội dung mang tính trí tuệ mà thôi.

Không ai muốn chết. Thâm chí những người muốn được lên thiên đàng cũng không muốn chết chỉ vì muốn được lên đó. Và cái chết là cái đích mà tất cả chúng ta đều phải đến, không ai trong chúng ta thoát khỏi nó. Và đó là cách mà nó phải diễn ra bởi lẽ cái chết chính là sáng tạo tuyệt vời nhất của cuộc sống. Đó chính là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại đi những người già để mở đường cho những người trẻ. Ngay lúc này, các bạn đang là những người trẻ tuổi, nhưng sẽ không lâu nữa, khi các bạn tốt nghiệp, rồi trở nên già đi, và sẽ bị loại bỏ.

Tôi xin lỗi vì có vẻ như tôi hơi xúc động nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của các bạn là có hạn, vì thế đứng lãng phí để sống cho một cuộc đời ai đó. Đừng nhốt mình trong những tín điều nào đó, sống như vậy là sống bằng suy nghĩ của những người khác. Đừng để quan điểm của những người khác làm mờ nhạt đi quan điểm của chính bản thân bạn.

S.T

Điều quan trọng nhất là bạn hãy dũng cảm đi theo sự mách bảo của trái tim và trực giác của mình. Bằng cách nào đó, chúng biết rõ bạn thực sự muốn trở thành cái gì. Những điều khác chỉ là thứ yếu.

Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách kỳ lạ được xuất bản với cái tên Cẩm nang toàn thế giới, cuốn sách này giống như kinh thánh của thế hệ chúng tôi. Người sáng tạo ra cuốn sách này là Steward Brand, một nghiên cứu sinh ở Menlo Park, cách đây không xa. Anh ta đã tạo ra nó bằng cảm giác đầy tính thi sỹ của mình. Thời điểm đó là vào cuối thập kỷ 60, trước khi có máy tính cá nhân và máy tính sách tay. Tất cả cuốn sách được đánh bằng máy chữ, cắt bằng kéo và bằng máy ảnh. Nó giống như trang Google trên giấy vậy, 35 năm trước khi có trang Google. Nó thực sự mang tính duy tâm, được tạo ra từ những công cụ tinh xảo và những ý tưởng vĩ đại.

Steward và các đồng sự của ông đã xuất bản một số tập của Cẩm nang toàn thế giới và sau đó, họ xuất bản tập cuối cùng. Thời gian đó vào khoảng giữa những năm 70 và tôi chỉ bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở trang bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường vùng nông thôn trong ánh bình minh, điều mà bạn có thể tìm thấy sự an bình nếu bạn là người ưa mạo hiểm. Bên dưới tấm ảnh có dòng chữ: “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ“ Đó là lời tạm biệt của họ khi kết thúc cuốn sách. “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ” Và tôi luôn cầu chúc điều đó cho chính mình. Ngày hôm nay, các bạn đã tốt nghiệp và chuẩn bị bước vào con đường mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.
Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ.

Cảm ơn các bạn rất nhiều.




Từ trước đến nay, người Nhật được cả thế giới biết đến là những con người sáng tạo, trong nghệ thuật, trong kỹ thuật hay bất cứ lĩnh vực nào khác. Thế nhưng, có điều mà ít ai biết rằng, họ còn sáng tạo ra nền văn hóa cà phê. Đó là sự giao thoa giữa truyền thống và hiện đại, giữa nghệ thuật thưởng thức và công nghiệp trình độ cao.
Cà phê phong cách Nhật Bản đã xuất hiện như thế nào?

Một loại máy xay cà phê của Nhật

Theo những gì lịch sử ghi nhận lại, Nhật Bản biết đến hương vị của cà phê lần đầu tiên vào năm 1877 do một thương nhân người Hà Lan mang đến. Rất nhanh sau đó, vào năm 1888, cửa hàng cà phê đầu tiên đã xuất hiện. Đó là một cửa hàng cà phê nhỏ, tọa lạc tại Ueno, Tokyo. Và kể từ ngày ấy, số lượng các cửa hàng cà phê không ngừng tăng lên. Cho đến ngày hôm nay, Nhật Bản là quốc gia tiêu thụ cà phê lớn thứ ba trên thế giới. Điều đó đủ để chứng tỏ, với người Nhật, cà phê hấp dẫn đến mức nào.

Cách uống cà phê của người Nhật Bản

Có thể nhận thấy, Nhật Bản là một đất nước công nghiệp thế nhưng điều đó không ảnh hưởng quá nhiều đến văn hóa cà phê của họ. Ít ra, người Nhật uống cà phê không đến mức quá nhanh vội, gấp gáp như người Mỹ. Nhưng họ cũng không “nhâm nhi” quá lâu như người Pháp hay người Ý.

Cà phê phong cách Nhật – nhẹ nhàng và chậm rãi

Người Nhật uống cà phê một cách vừa phải, chú ý trong cách thưởng thức từng hương vị của tách cà phê, không muốn bỏ sót một điều gì. Về hương vị, người Nhật ưa chuộng cà phê nguyên chất . Cho dù có một thời kỳ, gã khổng lồ Starbucks chinh phục ồ ạt thị trường Nhật Bản với các loại cà phê đặc pha thì sở thích ấy vẫn tồn tại. Nếu như ở Mỹ, một tách espresso chỉ cần khoảng 9-10g cà phê thì tại Nhật, lượng cà phê phải từ 12-13g/ tách hoặc nhiều hơn. Người Nhật của những vùng khác nhau cũng có khẩu vị cà phê khác nhau. Nhưng ưa chuộng cà phê nguyên chất nồng nàn và đậm đặc nhất là người dân Osaka và Tokyo.

Cà phê nguyên chất là sở thích của người Nhật

Mỗi quán là phong cách của Văn hóa cà phê Nhật Bản!

Hệ thống các quán cà phê ở Nhật rất đa dạng. Từ những quán cà phê nhỏ chỉ có vài bàn, rồi những quán sang trọng bậc nhất cho đến những chuỗi cà phê nhanh nổi tiếng thế giới đều đó cả. Thế nhưng, hành trình khám phá những quán cà phê nhỏ nhưng “chất” mới bộc lộ rõ nét về gu cà phê của người Nhật.

Các quán cà phê rất đa dạng về phong cách

Người Nhật rất tinh tế, lại sáng tạo. Cho nên quán cà phê muốn thu hút khách thì phải biết làm cho quán trở nên “độc” và “lạ” với những cách khác nhau. Ví dụ như, đến quán không chỉ để uống cà phê, hay tán gẫu mà còn để thỏa mãn một sở thích cá nhân, một đam mê nào đó. Cà phê âm nhạc và cà phê truyện tranh ra đời!
Cà phê âm nhạc - chất xúc tác cho cảm xúc thăng hoa: điều đặc biệt là những quán cà phê nhưng thế này xuất hiện từ khá sớm - thời kỳ thịnh hành của những chiếc máy hát. Thời đó, mỗi quán có một dòng nhạc riêng biệt và chỉ bật loại nhạc đó mà thôi: Blue, Jazz, Thính phòng hay thậm chí là Rock.

Không gian cà phê ấm cúng một góc quán

Người ta đến quán vừa được thưởng thức cà phê, vừa được nghe thể loại nhạc mà mình yêu thích. Có thể nói đó là thú vui tao nhã cũng không sai. Trong loại hình này, quán Meikyoku Kissa Lion là nổi tiếng nhất. Trong suốt 50 năm qua, quán vẫn giữ được cho mình phong cách vốn có.
Cà phê truyện tranh – sự kết hợp của 2 “chất gây nghiện”: ai cũng biết, truyện tranh đặc biệt được yêu thích tại Nhật Bản. Nắm bắt được điều đó, những quán cà phê truyện tranh ra đời là lựa chọn hoàn hảo cho các “tín đồ” truyện tranh (chủ yếu là thanh thiếu niên).

Cà phê truyện tranh là góc thư giãn độc đáo

Đến đây, khách hàng được đọc truyện miễn phí, đọc bao nhiêu tùy thích, có không gian yên tĩnh, số lượng truyện đa dạng giúp tiết kiệm thời gian và chi phí tìm mua, tìm đọc. Chưa hết, đây còn là nơi tụ tập, hay giao lưu kết bạn giữa những người có cùng sở thích. Ví dụ như quán Tokyo Manga Tantei-dan là một quán cà phê nổi tiếng trong loại hình này.

Cà phê phong cách Nhật Bản đa dạng và khác biệt so với một số nơi trên thế giới khi sử dụng giấy lọc để pha. Giấy lọc giúp hạn chế những tác hại của bột cà phê khi pha trực tiếp bằng phin. Đồng thời, cách này làm giảm tốc độ chảy của cà phê nên cho hương vị đậm đặc hơn.

Văn hóa cà phê của người Nhật Bản gắn với giấy lọc

Có thể nói văn hóa cà phê ở Nhật Bản tạo được dấu ấn rất riêng bởi 2 thứ. Một là sự sáng tạo và hai là sức ảnh hưởng. Nhật Bản là đất nước đầu tiên trên thế giới đưa ra ý tưởng về Cà phê lon và đưa vào sản xuất để cho đến ngày hôm nay, sản phẩm này có mặt trên hầu hết các quốc gia. Những loại hình cà phê độc đáo như cà phê nhạc, cà phê sách trên thế giới dường như đều có chung nguồn gốc từ Nhật Bản. Như vậy, có thể nói rằng, Nhật Bản không phải là cái nôi của pha chế cà phê, thế nhưng, văn hóa cà phê Nhật Bản lại đáng để mọi người học tập chính bởi sự sáng tạo trong …cách uống cà phê của người Nhật!

Viết bởi PurioCafe










Trong tiếng Nhật, từ “Kodawari” có nghĩa gần như là “sự chân thành, tập trung một cách kỹ lưỡng vào những gì bạn đang làm, với mục tiêu là làm cho nó trở nên hoàn hảo, đồng thời cũng nhận thức rằng sự hoàn hảo và bản thân công việc mang tính chất cốt lõi nhất”. Nó thường được sử dụng như một cách nói bóng bẩy những cá nhân đã dành cả cuộc đời cống hiến cho công việc. Không có bất cứ phung phí nào cho sự cầu kỳ đó, chúng tôi mong muốn có nhiều sự quan tâm trở lại đối với cách pha cà phê nguyên chất.



Mở đầu cho chuỗi các hướng dẫn cách pha cà phê nguyên chất trên thế giới là một phương pháp pha chế khá đơn giản nhưng mang lại hương vị cà phê vô cùng thuần khiết. Cùng khám phá thôi nào các bạn ơi!

Pha chế cà phê bằng dụng cụ lọc nhỏ giọt

Có thể cho rằng đây là cách pha chế đơn giản và sạch nhất để có được chất lượng cà phê thơm ngon nhất, và phương pháp lọc cà phê tao nhã này không hề khó khăn chút nào để thực hiện nó đâu các bạn nhé. Đối với những người quen pha cà phê bằng máy, thì phương pháp này cũng sẽ mang lại chất lượng cà phê tương tự nhưng đáng chú ý hơn hết là có sự tinh tế và phức tạp hơn.

Dụng cụ cần thiết cho phương pháp pha chế này:

  • Hạt cà phê nguyên chất
  • Máy xay cà phê
  • Bàn cân
  • Bộ lọc cà phê (Phin)
  • Giấy lọc
  • Ấm đun nước
  • Đồng hồ bấm giờ
  • Ly hoặc bình đựng cà phê

Đun sôi với lượng nước gấp đôi so với mức bạn cần để pha chế (khoảng 600-700 ml).

Lấy khoảng 25-30 gram hạt cà phê (Khoảng 2 muỗng canh cà phê).

Trong lúc đợi nước sôi, xay nhỏ lượng hạt cà phê vừa lấy. Độ lớn của bột cà phê nguyên chất bằng khoảng hạt muối biển.



Gấp tấm giấy lọc như hình trên và đặt vào bộ lọc cà phê đã được rửa sạch.

Đổ khoảng một nửa lượng nước đã đun vào miếng giấy lọc, đến khi giấy lọc đã thấm hoàn toàn, cũng như đủ để bộ lọc và ly/bình cà phê ấm lên. Đặt lượng nước còn lại trong ấm lên bếp đun lại cho đến 200 độ F. Để sau một phút hoặc lâu hơn, ly/bình cà phê của bạn đã ấm và chuẩn bị tiến hành pha chế cà phê.

Đổ bột cà phê đã xay vào bộ giấy lọc và lắc nhẹ. Việc này sẽ làm phẳng bột cà phê, và cho phép chúng ta đổ được nhiều cà phê hơn.

Bắt đầu ở phần trung tâm của bột cà phê, đổ nhẹ nhàng nước đã được đun sôi lại với lượng nước mà bạn sẽ dùng. Ví dụ: 50 gram nước với 25 gram cà phê. Đổ nhẹ nhàng ra xung quanh bột cà phê, và tránh để nước rơi vào hai bên giấy lọc. Bạn sẽ nhận thấy rằng, việc thêm lượng nước lần 2 sẽ làm bột cà phê nở ra trong khoảng 30-45 giây. Bột cà phê nở ra sẽ làm lượng nước được phân tán đều, và sẽ cho một cốc cà phê thật thơm ngon.

Tiếp tục đổ nước từ từ và đều đặn vào phần trung tâm bột cà phê. Bạn nên đổ nước với tốc độ hoàn tất khoảng 2,5 -3 phút.

Thưởng thức cà phê bạn vừa pha chế. Bạn sẽ ngạc nhiên với kỹ năng và những gì đã làm đấy. Thử làm lại lần nữa nếu thấy cần thiết bạn nhé!

Cùng chờ đón bài hướng dẫn cách pha cafe nguyên chất vô cùng độc đáo ở kỳ sau các bạn nhé!

Cariboo Café











Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.