Articles by "NHACSITUANKHANH"

Hiển thị các bài đăng có nhãn NHACSITUANKHANH. Hiển thị tất cả bài đăng



Cuộc giằng co của những ngư dân ở biển Sầm Sơn với chính quyền tỉnh Thanh Hoá từ nhiều ngày qua đã bột phát thành sự kiện lớn, thu hút sự quan tâm của mọi nơi.

Từ cuối tháng 2, con số ngư dân và gia đình ở biển Sầm Sơn tập hợp lại ngày càng đông, để phản đối dự án quy hoạch bờ biển làm du lịch đã lên đến đỉnh điểm vào ngày 5/3, khi người ta nghe tiếng súng nổ và có xô xát giữa hai bên.
Bên phía ngư dân muốn giữ lại vùng đất để sinh tồn của họ, vốn đã có từ hàng trăm năm. Còn phía chính quyền thì quyết giải toả vùng ngư nghiệp này để thực hiện dự án xây dựng cho du lịch cao cấp, đã thoả thuận với tập đoàn FLC.
Câu chuyện của ngư dân Sầm Sơn không phải là mới mẻ trên thế giới. Theo tài liệu của tổ chức Inclusive Development International, mỗi năm có khoảng 15 triệu người bị bứng khỏi nơi sinh sống của họ để dọn đường cho những dự án gọi là "phát triển".
Đây là ngọn sóng thần chậm rãi và tàn nhẫn xua đuổi những dòng người chạy tán loạn muôn hướng, để thế vào đó những kế hoạch làm ra tiền cho một nhóm người nhưng luôn có bề mặt bóng bẩy là dành cho cộng đồng.
Cuộc khủng hoảng thực tế – ảo đó đang lan tràn khắp nơi, đặc biệt là ở những quốc gia đang phát triển, vốn đầy sơ hở về luật pháp và các quan chức hám lợi.
Trong nhiều ngày, hai luồng thông tin trong nước mô tả về sự kiện nóng có hàng trăm người xuống đường với tâm trạng phân vân: một bên là những thông cáo báo chí của Nhà nước và nhà đầu tư được viết lại một cách đanh thép, một bên là các bản tin xót xa của người làm báo khi chứng kiến cuộc đối thoại bị đổ vỡ, thay vào đó là dùi cui, nắm đấm, thậm chí là tiếng súng.
Hình ảnh đó, dự báo cho một cuộc hỗn loạn im lặng, xói mòn tuyệt đối mối quan hệ giữa dân chúng và chính quyền, với tốc độ kinh khủng chưa từng thấy, dĩ nhiên đó là một tương lai không lấy gì làm tốt đẹp của cái gọi là "phát triển".
Mặc dù các dự án như ở biển Sầm Sơn luôn được xoa dịu bằng những hình ảnh đầy hứa hẹn trong tương lai là các việc làm được chu cấp, cũng như cuộc sống sẽ được cải thiện. Tuy vậy, bất kỳ ai cũng có thể nhận thấy rằng sự tổn thương của giai cấp nghèo khó nhất của Việt Nam sẽ là một thảm trạng kéo dài không có hồi kết.
Họ buộc phải chọn lựa để trở thành những lao động ngoài ý muốn phục vụ cho sự giàu có của những kẻ sở hữu tư liệu sản xuất ngoặc nhau với chính quyền địa phương, hoặc lìa bỏ quê hương của mình để mong chờ một cuộc đời khác không bị áp đặt.
Người ta hay nói về bề mặt của phát triển và sự hưởng thụ như một thành đạt, nhưng rất nhiều tài liệu nghiên cứu trên thế giới cho thấy, nếu không có một giải pháp đủ văn minh, mọi thứ giống như bạn cố quét rác ở điểm A và dồn vào, bỏ mặc ở điểm B bên cạnh, mở cửa cho vô số loại lạm dụng, nhưng được vỗ tay và gọi đó là thành công.
David Pred (người lừng danh trên các diễn đàn vấn đề con người và phát triển) đã từng viết thư chỉ trích World Bank, về các dự án cho vay đối với các nước đang phát triển, lên đến 50 tỉ USD/năm, vốn giỏi tập trung mọi thứ nhưng bỏ quên con người. "Sự đổ vỡ của các gia đình nghèo là quá rõ. Người ta không thể nào nói là tốt khi phải rời khỏi nhà của mình cho ai đó lớn mạnh, giàu có hơn.
Mọi tài liệu nghiên cứu đã chứng minh rõ rằng việc mất đi thu nhập, mất nhà cửa, tổn thương tâm lý cùng nhiều tác động khốn khó khác, chỉ là một vòng xoay dữ dội khác của đói nghèo nhưng được phủ hào quang lên đó", năm 2014, thạc sĩ về quyền con người của trường đại học Essex và cử nhân khoa học chính trị và quan hệ quốc tế của trường đại học Florida, đã viết như vậy cho Jim Yong Kim, chủ tịch của World Bank. Ông David Pred cũng làm việc nhiều năm ở Campuchia nhằm cảmh báo tình trạng phát triển mang hình thái cường quyền hoang dã.
Đừng bao giờ quên, 50 triệu hay 70 triệu đồng cho một hộ ngư dân ở Sầm Sơn, để đánh đổi việc rời khỏi vĩnh viễn cuộc sống lâu đời của họ chôn nhau cắt rốn là thứ đổi chác đê tiện: không có số tiền nào bù đắp đủ, ngoại trừ kế hoạch phát triển đó nhìn thấy bộ mặt con người và tính tới việc chia sẻ không gian sống tương đối cho cả hai.
Sầm Sơn sẽ mãi mãi không bao giờ còn nguồn cá như niềm tự hào của một địa phương từ ngàn đời, nhưng được thay vào đó là khu resort và các bữa cá mua từ tàu Trung Quốc, rất thanh thản từ chủ đầu tư cũng như chính quyền.
Năm 1980, rất nhiều ngân hàng quốc tế hào hứng với chiến dịch phát triển rầm rộ này nên đã đầu tư vào nhiều dự án lớn, tái định cư hàng chục ngàn người. Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert 

McNamara sau khi rời khỏi chiến tranh Việt Nam, đã trở thành giám đốc của World Bank (từ năm 1968 – 1981) và vẫn chưa rũ bỏ được cảm giác quyền lực của mình nên đã tài trợ – cho vay việc di dời 70.000 người để làm đập thuỷ điện ở Brazil.
Hôm nay người ta vẫn biết đến đập thuỷ điện đó nhưng ít ai nhắc đến một cộng đồng sinh sống bị huỷ diệt, đẩy vào khốn khó, bao gồm các bộ tộc thiểu số trong khu vực. Mỉa mai hơn, chính World Bank được ca ngợi như là những nhà hảo tâm giúp giảm thiểu đói nghèo ở khu vực.
Bài học đó cho thấy khi người ta chỉ chú mục vào sự phát triển, nhưng chỉ cho mình, và quên mất chung quanh. Trong những cuộc di dời ở vùng rừng núi Brazil cho dự án thuỷ điện Itaipu cũng có những vụ cưỡng chế, đánh đập, tiếng khóc và sự phẫn nộ không khác gì ở Sầm Sơn lúc này.
Không cần phải cam kết gì với con người và môi trường sống cũng là một vấn nạn ở Việt Nam. 
Những cuộc biểu tình chống lại các nhà máy, chủ đất… ngày càng nhiều trước tình trạng ứng xử tồi tệ với thiên nhiên và con người, hoặc lạm dụng trong sự cho phép của giới quan chức địa phương được chia sẻ quyền lợi.
Khi ngư dân Sầm Sơn phản ứng mạnh mẽ, không phải vì tham những số tiền bồi thường như các bài báo vẫn viết, mà họ cảm thấy sợ hãi cho việc bị bứng khỏi gốc rễ của mình cùng với tương lai đói nghèo vô định. Sự kiện ứng xử thô lậu và kém cỏi của tỉnh Thanh Hoá chỉ cho thấy thêm rằng quyền đối thoại của con người và con người đang bị dập tắt.
Đất nước này không thể tràn ngập những dự án và bề nổi huy hoàng, còn nhân dân thì sống sót bằng bỏ nghề đi kiếm sống ở các khu công nghiệp, hoặc lang thang lưu vong ngay trên chính quê hương mình.

———————————–

Tranh của ShanaJames

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/03/09/dung-bung-nguoi-dan-khoi-goc-re-cua-que-huong/



Chấm dứt chiến tranh Nam – Bắc Việt Nam, nhạc trẻ chậm chạp quay lại miền Nam, đặc biệt là trên sóng phát thanh truyền hình. Lúc đó, sự có mặt các tác phẩm của nhạc sĩ Thanh Tùng là sự góp sức quan trọng, giúp giải toả nhiều định kiến của "bên thắng cuộc" về âm nhạc miền Nam, và đem lại một không khí sôi động cho phong trào nhạc trẻ Làn Sóng Xanh ở Saigon, và của cả Việt Nam.

Người nhạc sĩ đến từ Nha Trang đã góp vào đời sống hàng loạt các bài hát như Hát với chú ve con, Lời tỏ tình mùa xuân, Ngôi sao cô đơn, Lối cũ ta về, Mưa ngâu, Một mình… với phong cách thuần pop và rock, tham gia vào làn sóng âm nhạc mới, biến đổi các nhịp điệu hành khúc buồn chán và đơn điệu, tuyên truyền trên sân khấu giải trí thành nụ cười và những bàn tay xiết chặt nhau, giơ cao đu đưa trong những đêm nhạc ngoài trời.

Cùng với dòng máu nóng của thanh niên Saigon đang khao khát có lại được một dòng nhạc phù hợp với mình, các nhạc sĩ Thanh Tùng, Trần Tiến, Bảo Chấn, Nguyễn Ngọc Thiện, Nguyễn Đức Trung… và nhiều người nữa đã cùng mở ra một không gian mới với pop, rock và sự trẻ trung được hưởng ứng rộng rãi, không thể ngăn cản được.

Không có nhạc sĩ Thanh Tùng, và một lớp nghệ sĩ yêu nhạc trẻ của thập niên 80, 90, thì có lẽ âm nhạc Việt sẽ mất thêm một thời gian rất lâu mới có thể thoát được một giai đoạn đầy định kiến và kiểm duyệt khắt khe với âm nhạc có nguồn gốc từ phương Tây. Cơ quan kiểm duyệt nhà nước và các nhạc sĩ dư luận viên coi đó như là một phần văn hoá "đồi truỵ và lai căng". Giai đoạn nhạc trẻ sống lại trong thập niên 80, 90 đã gợi nhiều cảm hứng và can đảm cho nhiều các nhạc sĩ khác cho ra mắt nhiều ca khúc nhạc trẻ thuần tuý, không màng phục vụ chính trị.

Cũng cần nhắc lại, giai đoạn mở đầu độc đáo của nhạc trẻ Việt Nam do các nhạc sĩ Lê Hựu Hà và Nguyễn Trung Cang xiển dương tại miền Nam, giai đoạn 80, 90 với sự góp mặt của nhạc sĩ Thanh Tùng, là một phần nối đáng nhớ cho sự phát triển của nhạc trẻ Việt Nam. Giai đoạn này, cùng với nhiều ca khúc khác, nhưng đặc biệt là các bài hát của nhạc sĩ Thanh Tùng đã mở ra một giai đoạn đặc biệt, nối liền sự thưởng thức của khán giả Việt Nam và hải ngoại, san bằng ít nhiều những khác biệt về văn hóa thưởng thức của người Việt tự do và đời sống trong nước.

Âm nhạc của nhạc sĩ Thanh Tùng, cũng là cơ hội để các tên tuổi như Bằng Kiều, Thu Hà (Saigon), Thanh Lam… vụt sáng và tiếp cận đông đảo khán giả hơn. Trong các giai đoạn sản xuất băng đĩa rộn rịp nhất, dù không có được thống kê cụ thể, nhưng các tác phẩm của ông được liệt vào hàng ăn khách nhất của nhạc trẻ Việt Nam.

Hơn mười năm nay, ông yếu sức do bệnh tật, và không còn tham gia đời sống âm nhạc nữa. Ngày 15 tháng 3/2016, ông mất tại Bệnh viên Bạch Mai, Hà Nội, hưởng thọ 68 tuổi.

Nhạc trẻ Việt vào thời kỳ gượng phục hưng, sau 1975, ghi nhớ sự có mặt của nhạc sĩ Thanh Tùng như một nhân vật đáng nhớ với nhiều thương tiếc.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/03/15/nhac-si-thanh-tung-xin-tam-biet/



Liên tục những sự kiện bùng nổ trong nhiều ngày của tháng 3/2016 đã thu hút nhanh mối quan tâm của xã hội, trong số đó phải kể đến là sự kiện Sầm Sơn, thiếu tá công an xã xách súng vào khủng bố trường học ở Gia Lai, luật số 15 gây ách tắc việc điều tra tham nhũng… Những chuyện lớn lao đó đã đủ lấp đầy suy nghĩ, che lấp nhiều điều thú vị khác trong đời sống.

Một trong những chuyện, nên được nhắc lại, đó là việc ông Huỳnh Văn Nén tiếp tục theo đuổi vụ án của đời mình lại tiếp tục gây nên nhiều dư luận. Người tù oan, có thời gian bị giam giữ đến hơn 17 năm ở tỉnh Bình Thuận, sau khi trở về nhà, đã kiên trì tiếp tục mục đích của ông là đưa 14 người có chức vụ ra toà, đối mặt với công lý.

Đầu tháng 3/2016, Cục điều tra Viện KSND tối cao đã hồi đáp đơn yêu cầu điều tra của ông Huỳnh Văn Nén. Câu chuyện cuộc đời của ông Huỳnh Văn Nén, được giới luật sư goi tên là đại kỳ án của quốc gia xem ra vẫn tiếp diễn, và chắc là sẽ mở ra thêm nhiều điều đáng chiêm nghiệm từ ngành tư pháp Việt Nam hiện nay.

Có không ít dư luận quanh sự kiện này. Có người thì cho rằng hành động quyết liệt này của ông Huỳnh Văn Nén là cần thiết, và người dân chờ đợi vào kết quả như một thái độ đúng công dân. Nhưng cũng có ý kiến rằng ông Nén đã "làm quá", vì đã được xét bồi thường từ 10-12 tỉ đồng, và được cả nước chia sẻ vụ án oan này. Thật mới mẻ với người Việt, khi chứng kiến một người tù oan quyết đi đến tận cùng của sự việc, so với thói quen cam chịu, im lặng và dễ dàng chấp nhận từ nhiều năm nay.

Cuối năm 2015, trong một cuộc gặp mặt do báo Infonet tổ chức, tôi có được may mắn tiếp xúc với ông Huỳnh Văn Nén cùng gia đình, thầy Nguyễn Thận và luật sư Phạm Công Út, những người đeo đuổi chuyện minh oan cho ông Nén. Ông Nén bị công an điều tra đánh đập, đe doạ… buộc phải nhận tội giết 2 người trong vùng của ông, giấu nhẹm cả đơn tố cáo hung thủ thật.

Điều khiến tôi hay nhớ về ông Nén, đó là một gương mặt đầy nếp nhăn, rúm ró giấu kín mọi suy nghĩ. Rất khó phân biệt được biểu cảm của ông là đang cười hay đang khóc. Chỉ đến khi thấy giọt nước mắt của ông im lặng chảy xuống, thì mới biết. Mà lúc đó thì chung quanh cũng rất nhiều người khóc, mắt đỏ hoe. Những người đàn ông thì khóc không thành tiếng, mặt rúm ró vì những quặn đau trong lòng.

Ông Nén là người hiếm hoi, không chịu ngồi xuống và hài lòng với phần đời còn lại qua số tiền bồi thường khổng lồ. Nơi ông Nén đang sống, chỉ cần có một tài sản 1 tỉ đồng đã là đại phúc, thế nhưng ông được hứa hẹn là sẽ có gấp 10 lần như vậy. Có lời bình luận rằng có thể ông Nén còn chất chứa hận thù hoặc trở nên cơ hội trong sự kiện đời mình, nhưng quan trọng nhất, đích đến của ông Nén vẫn vô cùng công chính, đó là công lý.

Ngày 3/12/2015, ông Huỳnh Văn Nén được phó chánh án TAND tỉnh Bình Thuận lạnh lùng đọc thư xin lỗi công khai. Trong 30 phút của buổi xin lỗi đó, ông Nén nhiều lần nhắm nghiền mắt, im lặng, tay buông thõng. Có lẽ ký ức của ông dội về, với những ngày tháng ông cùng 8 người thân trong gia đình bị giam cầm, nhà cửa không còn, cái chết đến cùng bữa ăn hàng ngày.

Ông Nén từng cởi áo giữa toà để chứng minh mình bị đánh đập, bức cung ra sao. Nhưng nhiêu đó thì không đủ, làm sao tả hết những ngày ông bị trói vào ghế, công an điều tra dùng chân mang giày đá liên tục và ống chân đến thâm đen. Đến mức ông té xuống, khóc, xin tha, thì bị công an viên trẻ như con mình quát "cho mày chết luôn". Người thân của ông, bị giữ để điều tra ở nhà tạm giam nữ, khi đến chu kỳ tháng phải tự xé quần làm băng vệ sinh, chứ không được cấp phát theo quy định, vì bị người điều tra tuyên bố "không nhận tội thì ráng chịu".

Ông Nén chắc không ngờ vì sao mình trở thành kẻ phạm tội, và vì sao phải nhận tội. Một buổi tối ghé xin ít rượu đế từ nhà hàng xóm với lời nói đùa "uống để gột rửa tội lỗi" đã biến ông thành nghi can số một. Đã có lúc ông Nén muốn chết vì quá đau đớn thân xác và tinh thần, nhưng ông đã không thể làm vậy, vì nếu ông còn sống thì công lý còn một hy vọng, sự thật còn một cơ hội. Công lý không đơn giản là một lời xin lỗi công khai, không là con số 10 hay 12 tỉ đồng. Công lý là ánh sáng giữa cuộc đời tưởng chừng như tuyệt lộ này, công lý là đòi hỏi việc xiển dương sự thật cũng như vạch mặt những kẻ không đủ khả năng để phục vụ cho sự thật.

Khi ông Nguyễn Phúc Thành gửi đơn tố cáo thủ phạm thật, xin giải oan cho ông Nén, thì bị điều tra viên Cao Văn Hùng chỉ mặt "mày muốn chết à? Tao cho mày chết". Sau vụ án của ông Nén, điều tra viên đó ra Hà Nội ung dung hành nghề luật sư. Thậm chí số tiền dự trù 10-12 tỉ đền bồi cho ông Huỳnh Văn Nén cũng lấy từ tiền thuế của người dân, chứ 14 cán bộ người liên quan đến vụ án của ông Nén không hề thiệt hại mảy may.

Nhưng ông Huỳnh Văn Nén hay Nguyễn Thanh Chấn chỉ là những trường hợp may mắn được giải oan, còn bao nhiêu trường hợp khác chưa được biết tới đang rên xiết trong phòng điều tra, mơ ước một sự công tâm?

Hãy cám ơn ông Huỳnh Văn Nén. Ông không đi tìm công lý cho riêng mình, mà đang dựng lại ngôi nhà chung cho mọi người. Ngôi nhà đó có cánh cửa lớn tràn ngập ánh sáng chứ không âm u với những chấn song lờ mờ chực chờ. "Công lý chính là thứ đức hạnh hàng đầu của kẻ cầm quyền", Denis Diderot (1713-1784), nhà triết học Pháp có để lại lời nhắn đó từ thế kỷ thứ 18. Lời xin lỗi hay một mớ tiền bồi thường không thể đánh tráo khái niệm đó là là công lý và đức hạnh của một quốc gia. Tìm cách để giảm thiểu bất công, soi chiếu ánh sáng công lý vào những nơi không thể đó mới chính là đức hạnh của người cầm quyền, đức hạnh của công dân.

Và hơn ai hết, xin hãy ngã nón chào người từng bị giam cầm 17 năm 5 tháng 11 ngày ấy, vì chính ông đang thay chúng ta, lặng lẽ hành động vì đức hạnh của ngành tư pháp, vì tương lai trên đất nước này.

———————————-

Minh họa: Tranh den của Thái Tuấn

Nhạc Sĩ Tuấn Khanh
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/03/16/duc-hanh-cua-ke-cam-quyen/



Nhiều ngày sau khi niềm tự hào về một sản phẩm công nghệ của Việt Nam được dấy lên, Bphone – điện thoại của công ty BKAV ra đời – đã vấp phải nhiều nghi vấn về chuyện loại hàng đó có thể được nhập khẩu từ Trung Quốc nhưng dán nhãn Việt Nam.

Thậm chí, một bức thư của BKAV Corp gửi đến hãng BYD Corp (Trung Quốc), nơi sản xuất loại các kiểu điện thoại như Bphone hiện nay, để xin tìm hiểu về việc đặt hàng bị tiết lộ trên mạng www.saom.net.cn khiến nhiều người lại thêm xôn xao. Theo thư của BKAV, việc tìm hiểu đặt hàng nhằm vào loại vỏ điện thoại do Trung Quốc sản xuất, trong khi trước đó BKAV từng ca ngợi ngay cả vỏ điện thoại, Bphone sẽ được sản xuất bằng công nghệ CNC vào tầm hiện đại nhất thế giới. Rất nhiều chi tiết khác thú vị như vậy, người ta cũng có thể tìm thấy ở trang facebook của anh Nguyễn Ha lúc này.

Trái với một chiến dịch quảng bá rầm rộ tốn kém đến 10 tỷ đồng, những nhà quản lý của Bphone đã im lặng không giải thích về "siêu phẩm hàng đầu thế giới", ngay trên trang chủ của họ. Có thể tin đồn không đúng, nhưng sự tảng lờ đó khiến cái "nhất" của Bphone làm không ít người bị tổn thương. Đặc biệt với hàng triệu người Việt say men trong phong trào chủ nghĩa quốc túy.

Một lần nữa, niềm đam mê về những cái "nhất" trong đất nước này lại vấp phải những điều khó hiểu, và không thể trách nổi vì sao sự phản ứng ngày càng nhiều trong các bài viết phân tích về công nghệ, những nhận định cá nhân của người tiêu dùng trên các trang mạng xã hội.

Có lẽ BKAV đã đúng, vì trước khi tung ra một sản phẩm của mình, đã đánh trúng là trào lưu mê đắm cái "nhất" của đám đông đang tự huyễn hoặc mình, bằng những cái nhất không thực tế như nhất về thời trang công nghệ, nhất về trí tuệ, nhất về bóng đá… mà bất chấp những phân tích thực tế đau đớn như năng lực của Việt Nam hiện tại bị tụt lùi đến cả thế kỷ: Trước đây hơn 50 năm, nếu Việt Nam đã bắt tay và sản xuất máy bay và xe ô tô thì hôm nay không gia công nổi một con đinh ốc.

Trong căn bệnh chủ nghĩa quốc túy, người Việt Nam phải là nhất. Ai không đồng ý và phản biện, có thể bị coi như là một kẻ phản quốc. Trong lời tự bạch của một thanh niên ca ngợi BPhone, anh này nói rằng anh đã ném chiếc điện thoại hàng đầu thế giới made in VN vào mặt một người đang chỉ trích nó. Giọng văn đó hả hê và cũng có không ít lời ủng hộ. Và cả nhóm người phô bày sự hãnh diện đó cũng không cần biết một nguyên tắc căn bản của con người khao khát muốn bước vào thế giới của cái "nhất" là cần sự đồng thuận của đám đông chứ không phải cưỡng bức bằng bạo lực cho điều mình muốn.

Chủ nghĩa quốc túy tự nó không xấu, nhưng chạy theo nó như một loại thời trang và hoang tưởng thì là một căn bệnh. Người Nhật tự mình dọn rác sau một trận đấu vì tính cách và lòng kiêu hãnh của quốc gia, chia sẻ nhau miếng ăn và nước uống sau động đất vì tinh thần tự trọng của dân tộc. Nhưng nếu bắt chước dọn rác vì muốn được khen là văn minh, nhưng sau đó không ngại dẫm đạp nhau dành món quà khuyến mãi, cướp hàng của kẻ khó, ngã trên đường chính là những bài giải ảo về một thứ chủ nghĩa quốc tuý thời trang.

Năm 2003, vài ngày trước khi Mỹ tấn công vào Baghdad, đã từng có hàng trăm ngàn người xuống đường biểu tình, thề sẽ sống chết cùng ông Saddam Hussein, nhưng khi những binh sĩ thuỷ quân lục chiến Mỹ đầu tiên đặt chân vào Iraq, thì vô số kể những người biểu tình, hừng hực chủ nghĩa quốc tuý ấy đã bỏ trốn, bao gồm cả những tướng lãnh cấp cao.

Việt Nam có thiếu những cái nhất không, hay bị nhấn chìm trong niềm khoái lạc về cái vỏ văn minh tầm cỡ thế giới?

Có lẽ vẻ quê mùa của 4 người đàn ông ở Đồng Tháp đã không thuyết phục được phong trào chủ nghĩa quốc tuý sang trọng, khi họ chế ra xuồng năng lượng mặt trời, không tiếng ồn, không gây ô nhiễm và là giải pháp quốc gia về vấn đề năng lượng.

Có lẽ chuyện âm thầm cứu người không là vẻ đẹp thời trang, nên chuyện một nông dân ở Thái Nguyên chế tạo được máy trợ thở made in VN, trở thành niềm hy vọng cho hàng ngàn người bệnh nghèo cũng đã không được thương nhớ nhiều.

Có lẽ chuyện ông nông dân ở Bình Dương nhiều năm nghiên cứu về chế tạo trực thăng, rồi được chính phủ Campuchia mời sang tái thiết thành công hàng loạt xe bọc thép, vẫn không là niềm tự hào của tinh thần yêu tổ quốc cần nhiều lấp lánh như hôm nay.

Chủ nghĩa quốc túy – một căn bệnh – là phải phô trương mình và vật thể đi theo mình, có thể mới là đúng điệu. Chủ nghĩa yêu nước không nằm trong trái tim, mà phải cầm trên tay hay mặc chiếc áo và miệng hô to và rưng rưng khóc. Và vì vậy, những điều cần xao xuyến tự hào và "quê mùa" như tổ quốc mình đã có, chắc sẽ dễ bị lãng quên.

Nhiều thập niên trước, Việt Nam từng rơi vào vấn nạn của trào lưu Niệu liệu pháp – một loại cách mạng tự chữa bệnh, trường sinh, khoẻ mạnh nhờ niềm tin uống nước tiểu của chính mình. Sách giảng dạy về niệu liệu pháp lúc đó được in và phát tặng như một thứ tâm đức, trong đó có ghi "không có gì bằng chúng ta uống nguồn nước của chính mình". Trào lưu đó thịnh hành đến mức nhiều kỹ sư, bác sĩ cũng tham gia và ca ngợi trên các báo. Nhưng rồi trào lưu đó tàn dần vì không mấy ai có thể đủ ảo tưởng để nhắm mặt, bịt mũi uống nguồn nước của chính mình như vậy dài lâu.

Người Việt rồi cũng cần đến lúc chọn một tình yêu và niềm tin tinh khiết cho mình, chứ không thể bịt mũi và nuốt mọi thứ, tảng lờ những điều thiết thực, thật sự quý giá nhất quanh mình.

—————————-

Tham khảo:
http://m.made-in-china.com/product/746765035
http://www.saom.net.cn/inquiry/bkav_corp_send_to_byd_corp-d9918742.html

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2015/06/16/nguon-nuoc-cua-chinh-minh/



Nhà ga Kami-Shirataki, Nhật, sẽ đóng cửa vào tháng Ba này, và mở ra một ký ức văn minh hết sức ấm áp cho nước Nhật cũng như cho thế giới. Nhà ga nhỏ nằm ở thị trấn Engaru, thuộc vùng nông thôn của Hokkaido, đã đột nhiên lừng danh từ 3 năm nay với việc duy trì phục vụ cho một hành khách duy nhất, là một nữ sinh đi học hàng ngày.

Câu chuyện Cơ quan Đường sắt Nhật Bản họp và quyết định duy trì hoạt động đầy thua lỗ này với mục đích là giúp cho một nữ sinh không gặp khó khăn trên đường đến trường trở thành huyền thoại trong thế giới hiện đại, vốn đang nghèo khó sự chia sẻ và lòng bác ái. Nhìn về nhiều phía, nước Nhật quả là đầy huyền thoại, và con người ở đất nước này cũng rất thông minh để biết cách tạo nên những huyền thoại lưu danh hậu thế.

Những câu chuyện như vậy trên trên giới thật hiếm hoi. Một phần vì đức năng đủ để tạo nên truyền kỳ không dễ, một phần khác là không phải những câu chuyện nào cũng được nhân gian biết đến. Chuyện nhà ga Kami-Shirataki làm tôi nhớ đến người lái đò ở Cồn Sơn, Cần Thơ. Vùng đất miền Tây lặng lẽ và hiền lành này nếu được ai đó viết lại, cũng là một chuyện truyền kỳ đáng ngưỡng mộ trong cuộc sống này.

Để đi đến vùng cây trái xanh tươi cây trái Cồn Sơn, phải đi qua một con sông. Phương tiện duy nhất nối hai bờ là chiếc đò của chị Bé. Người phụ nữ có nước da ngăm đen, dáng người cục mịch nhưng khoẻ mạnh này mỗi ngày lái hàng chục chuyến đò miễn phí cho dân chúng ở Cồn Sơn, từ 5g sáng cho đến 9 giờ tối. Rất nhiều chuyến, chị chỉ chở một học sinh, thậm chí chỉ một con vịt được gửi qua bên kia bờ.

Chị Bé trên dưới 40 tuổi. Cũng không ai biết nhiều về chị, dù chị nhẳn mặt mọi người. Học trò xuống đò ra phố trốn học đi chơi, thế nào cũng bị chị gọi méc. Người đi làm công nhật bỏ bữa không đi, chị đã lo hỏi có bệnh không. Công việc của chị gần gũi đến mức ít ai nhớ người phụ nữ rất hay mắc cỡ, luôn im lặng này, đã tự mình dựng nên một con đò, rồi sống một cuộc đời miệt mài với những chuyến đưa đò không cần lấy lại với dân chúng. Từ năm chị Bé 15 tuổi, khi nhận ra qua con sông là chuyện khó của nhiều người, chị gom góp của cải và âm thầm chọn cho mình cuộc đời đưa đò như vậy.
Đêm hôm, nhà ai có sinh nở, chỉ cần ở bên bờ ới chị một tiếng, đã nghe tiếng máy nổ xình xịch chạy tới. Chị Bé không có ngày nghỉ, đến mức bệnh đang nằm liệt, nghe người gọi cần xuống đò, chị cũng lồm cồm ngồi dậy làm công việc của mình không một tiếng cằn nhằn.

Tên thật của chị là Nguyễn Hoàng Dịch Thuỷ. Cái tên đẹp và ý nghĩa như công việc ngày thường của chị. Ở Nhật, người ta giữ lại một nhà ga cuối cho một học sinh. Ở Việt Nam, người phụ nữ vô danh ở miền Tây xô vạt một con sông để chắt chiu một ngôi làng, 49 gia đình với già trẻ lớn bé không họ hàng thân thích gì với chị cả.

Có lúc thắc mắc, tôi hỏi những người chung quanh rằng rồi chị Bé sẽ sống bằng gì với sự cho đi thanh thản như vậy. Người thì nói rằng chị có chỗ giữ xe cho dăm ba khách du lịch, một cái tiệm tạp hoá con. Rồi mấy năm gần đây khi khách du lịch lác đác tìm đến, chị được chút ít tiền đưa đò cho khách. Tiền kiếm được thêm, chị Bé lo chuyện bị phạt vì đưa khách sang sông mà không có áp phao nên dồn mua đủ loại phao, áo… chất đầy trên đò.

Tháng ba này nhà ga Kami-Shirataki dự trù sẽ đóng cửa vì cô nữ sinh tốt nghiệp và vào đại học, sẽ ở lại trên thành phố lớn. Còn con đò Dịch Thuỷ ở miền Tây thì vẫn ngược xuôi, không hẹn ngày nghỉ. Phật dạy rằng gánh nặng lớn nhất trong đời người là yêu thương. Người đàn bà miền quê đó lặng lẽ mang hết những gánh nặng đó trong đời, với nụ cười chai sạm hết sức hồn nhiên. Con đò như đời người, như một công án thiền mênh mông, không màng lời giải.

Có những con người Việt Nam như vậy, như Bồ Tát đời thường, vẫn sống, vẫn đứng giữa mọi người trong từng ngày thường. Họ như những tia sáng le lói soi vào tim người, làm dịu đi những nan đề của đời khiến nhân gian sôi sùng sục học cách đáp trả, học cách bắt lấy thật nhanh danh lợi. Tiếc là họ luôn lẩn khuất trong cuộc sống đang vằn vện hào quang ảo tưởng.

Trong bài "Hai người gian dối trong cuộc chiến 1979" mà báo Petro Times đưa trong ngày 17/2, tác giả có nhắc về hai nhân vật không có thật đã tung hoành trong trí tưởng tượng của nhiều thế hệ Việt Nam là Lê Văn Tám và Nguyễn Văn Bé. Hai nhân vật được dựng lên với nhiều chi tiết vô lý, thậm chí được đưa vào học thuộc lòng trong sách giáo khoa.

Phải chi câu chuyện thấm đẫm tình người như nhà ga Kami-Shirataki hay con đò Dịch Thuỷ ở miền Tây được thay vào cho những nhân vật nói trên, biết đâu sự dữ dội giả tạo ấy trong sách giáo khoa sẽ nhường chỗ cho lòng bác ái và tình thương, cho nhiều thế hệ về sau?

Tôi coi bản video ghi lại lễ hội cướp phết ở làng Hiền Quan, Phú Thọ, bắc Việt Nam trong những ngày tháng Giêng, đầy những cảnh tranh cướp đánh nhau kinh sợ, e còn hơn cả những cảnh trong bộ phim giả tưởng Bụi Đời Chợ Lớn. Những cảnh chém heo lìa đôi oai phong lẫm liệt đến rợn người. Người Việt thật sự chỉ được học sức mạnh của các anh hùng, bao gồm cả những anh hùng bịa đặt? Người Việt chỉ được dạy khao khát sức mạnh như bom và xăng. Một ngày nào đó, liệu chúng ta có còn cơ hội để học về những con người bình thường – những con người không âm mưu danh lợi hay quyền thế, không chà đạp nhau mà chỉ muốn cho đi với sự bao dung như một con đò vô danh?

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/02/23/huyen-thoai-va-vo-danh/


(Tranh của Lê Thiết Cương)

Tổ quốc là gì, mà trước khi chết, Frederic Chopin, nhà soạn nhạc lừng danh của Ba Lan (1810 – 1849) cứ khắc khoải dặn dò trong lúc đau yếu, rằng hãy mang trái tim của ông về chôn cất ở quê nhà? Lưu lạc ở Pháp và Anh suốt trong 20 năm, nhưng Chopin luôn ngóng về đất mẹ, kể từ cuộc nổi dậy của người Ba Lan trước ách xâm lược của đế quốc Nga (1831).

Khi nghe tin cuộc cách mạng thất bại, dẫn đến việc hàng ngàn người Ba Lan phải ra đi lánh nạn, Chopin đã khóc và viết bản Etude cung Đô thứ (Op. 10, No. 12), còn gọi là bản etude Cách mạng, để ghi lại như một dữ liệu âm nhạc cho lịch sử đau thương của tổ quốc mình.

Tổ quốc là gì? Tôi vẫn tự hỏi

Với một nghệ sĩ cello tài danh, được cả thế giới chào đón như Mstislav Rostropovich (1927 – 2007), nơi nào cũng có thể là nhà, nhưng năm 1978 khi bị chính quyền Liên Xô cũ tước quyền công dân Nga, không cho trở về quê hương vì thái độ bất đồng chính kiến, ông đã đau khổ nói rằng "Nước Nga mãi trong trái tim tôi. Vậy mà tôi đã không thể quay lại để nhìn thấy tổ quốc và bạn bè của mình".

Nhưng sau đó, năm 1991, khi Liên Xô tan rã, Rostropovich vội vã tìm cách bay trở lại Nga, xin một khẩu súng để được chiến đấu cho quê hương mình không còn chịu ách độc tài nữa. Lúc đó ông 54 tuổi, và đang được nhiều quốc gia như Anh, Canada, Nhật, Mỹ… sẵn lòng mời ông làm công dân danh dự của nước mình.

Tổ quốc, trong mỗi con người, ắt hẳn đều có những lý lẽ riêng cho sự ràng buộc lạ kỳ đó. Có thể đó là những lý lẽ dài dòng, hoặc chỉ là những cảm giác mơ hồ nhưng khó thể chối bỏ. Tổ quốc có thể gợi nhớ bằng hạnh phúc hay đau thương nhưng ký ức đó thì sẽ mang theo đến tận cuối đời như một món nợ trong tâm thức về nơi chốn.

Năm 2008, trong một bài nói chuyện về lòng ái quốc tại bang Missouri, ông Barack Obama đã nói với những người rất trẻ về tổ quốc và một tình yêu cho nó "khi đối diện với mất mát và hy sinh, con người trong một đất nước không bỏ chạy, không né tránh mà lại càng gắn kết với nhau hơn để đứng dậy, đó là tình yêu cho tổ quốc".

Nước Mỹ là một quốc gia phải nói nhiều về tình yêu tổ quốc và giáo dục kiên trì ý tưởng đó, bởi đó là quốc gia của những người nhập cư, bao gồm nhập cư từ chính các nước có tư tưởng thù địch với họ. "Hãy bắt đầu bằng những ký ức đẹp đẽ nhất mà bạn đã sống trên đất nước này, gìn giữ nó bằng cảm giác đơn sơ nhất, thậm chí có thể bỏ ngoài tai các lời tuyên bố hay tranh cãi của các chính trị gia", ông Obama nói.

Tổ quốc – đất mẹ

Thật bí ẩn khi đem vào tâm trạng của con người nỗi buồn ngập đến lúc ra đi, khi thấy mình bất lực. Nhà thơ Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu (1888 – 1939) lúc say, đã giắt tấm bản đồ nước Việt rách ở lưng quần, lang thang ca hát nghêu ngao "Dù như sông cạn đá mòn. Còn non, còn nước, hãy còn thề xưa" (Thề non nước).

Đất mẹ dưới ách thực dân, quan tham dẫy đầy, quân dữ lao nhao, người Việt không còn thương nhau, tổ quốc điêu linh, người trí thức nếu không viết xuống bằng thơ văn, thì biết phải làm sao?"

Tổ quốc là gì mà đời mình phải nhớ, đời sau phải giữ? Nguyễn Phi Khanh (1335 – 1428) khi kháng chiến chống quân Minh xâm lược nước Việt bị bắt, giải qua biên giới chịu tội đã quay lại dặn Nguyễn Trãi (1380 – 1442) rằng hãy quay về tìm cách diệt giặc cứu giang sơn. Trong Hận Nam Quan của nhà thơ Hoàng Cầm có hát lại lời xưa: Về ngay đi, ghi nhớ hận Nam Quan./ Bến Kim Lăng cho đến ngày nhắm mắt,/ Cha nguyện cầu con lấy lại giang san…

Với những người ghi danh trong lịch sử thì đã vậy, còn với từng con người Việt bình thường, tổ quốc là gì trong trái tim họ? Cô bạn có hơn 20 năm sống ở nước ngoài nói mỗi khi gần Tết Việt, nghe một khúc nhạc quê, nghe mùi hương trầm lại dậy lên nỗi nhớ nhà kinh khủng. Tổ quốc như một vết cắt trong tim, tưởng đã lành với nhiều người đi xa, nhưng không ngờ cứ nhói lên khi nghĩ đến.

Trong các cộng đồng người Việt xa quê, ngày Tết là ngày không thể quên. Nhiều khi Tết chỉ nằm trong trí tưởng tượng, Tết là ngày phiền toái vì phải trữ trong nhà những món ăn dài ngày không đúng theo luật vệ sinh của phương Tây, phải giải thích thật dài dòng cho lũ trẻ về một đất nước với nhiều huyền thoại mà ngày thường chúng không quen.

"Làm sao Việt Nam lại có những câu chuyện kỳ quái như một đôi vợ chồng lại đẻ ra trứng?" – "Nó là huyền thoại để ghi nhớ, để tìm hiểu về một quê hương có thật – mà dù lạ lùng đến thế nào chúng ta sẽ chấp nhận, phải giữ gìn, vì đó là nơi ông cha chúng ta sinh ra", tôi nghe người cha trong gia đình giải thích cho đứa con sắp vào đại học, nói tiếng Việt đã ngọng nghịu.

Những câu chuyện về Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Quang Trung, Nguyễn Ánh… là gia sản lớn nhất mà các bậc phụ huynh có thể tự hào nói với con cái mình – ở những vùng đất mà trẻ con hội nhập cuộc sống mới luôn nhanh và giỏi hơn, thậm chí dạy lại cho cha mẹ.

Quả là từng người Việt vẫn giữ gìn cho mình những điều không giải thích được về đất mẹ, dù khó lý giải được tận cùng các ý nghĩa. Cũng như mỗi người dù đi đâu, nơi nào, vẫn mang trong tim một gánh nặng yêu thương bí ẩn về quê hương, không dễ từ bỏ.

Lễ, Tết trong đời sống Việt xa quê, chỉ là dịp để gặp lại, để nhớ, để kết nối trong trí nhớ những ràng buộc mơ hồ về quê hương – mà đôi khi phải cố quên, nhưng thật dễ bùng lên thương nhớ. Một người bạn đã sống hơn 30 năm ở Mỹ kể rằng những năm 1970, số người Việt cứ báo bệnh, đồng loạt nghỉ vào ngày Tết âm lịch khiến nhiều công ty, hãng xưởng hoang mang, báo cho các cơ quan y tế về một bệnh dịch bí ẩn.

Sau này khi hiểu ra, nhiều nơi cũng châm chước vì đó là ngày không thể thiếu với cộng đồng Việt Nam. "Đôi khi, nghỉ cũng chẳng làm gì. Về nhà pha một ấm trà, ăn một cái bánh chưng và mất một ngày lương nhưng lại thấy vui, vì đó là phong tục xứ mình, phải giữ", anh bạn Việt kiều kể lại.

Trong lịch sử hơn 2.000 năm không tổ quốc của người Do Thái. Tổ quốc – đất mẹ, là sự khắc khoải, là giấc mơ tìm về không ngừng nghỉ của nhiều thế hệ. Từ những năm 60 trước Công nguyên, bị đế quốc La Mã xâm lược và xoá tên khỏi bản đồ thế giới, người Do Thái đã lưu lạc khắp nơi, và dù thành đạt ở đâu, đã quần tụ nơi nào… họ vẫn khát khao dựng lại quê nhà.

Trong Bài học Israel của nhà văn hoá Nguyễn Hiến Lê, điều mà mỗi người Do Thái cầu nguyện trước bữa ăn hay chào nhau, đều là "năm sau về Jerusalem". Con cháu của những kẻ mất quê hương đó luôn được nghe và dạy nói như vậy, để biết và nhớ rằng mình có một tổ quốc.

Thật tuyệt vọng và viển vông với những người Do Thái góp tiền mua lại đất đai ở Palestine, dọn về xây dựng từ khô cằn và hoang mạc. Từ thế kỷ 19 đến sau đệ nhị Thế chiến, đến năm 1948 người Do Thái mới có cơ hội reo mừng dựng cờ trên đất mẹ, dù chung quanh đầy những quốc gia với tình trạng thù địch. Hôm nay, câu chào "năm sau về Jerusalem" vẫn được nhắc lại như một ký ức kiêu hãnh độc tôn của một dân tộc không từ bỏ tổ quốc của mình, dù trải qua ngàn năm quay quắt mong đợi.

Năm sau đến Hoàng Sa
Tôi có một người bạn ở Hà Nội, mà cứ thỉnh thoảng lại thấy ông treo hàng chữ "Năm sau đến Hoàng Sa". Đó là một người sống cả đời vẫn chưa bao giờ có dịp ra biển đến gần Trường Sa hay Hoàng Sa. Nhưng sự âm vang trong lời hẹn của ông lại là sự khắc khoải kỳ quái đến mức suy nghĩ luôn luẩn quẩn về hai chữ Tổ quốc.

"Năm sau đến Hoàng Sa", khẩu hiệu ấy đủ sức làm những ai nhìn thấy phải bật nhớ đến biển, đến mộ gió, đến những cái chết oan khiên của ngư dân và thanh niên người Việt được trao trách nhiệm gìn giữ quê hương mình. Đúng là chúng ta đã mất mát quá nhiều, nên đã đến lúc chúng ta cần đứng lại, cùng nhau, trên quê hương này.

Năm nay, tôi lại thấy người bạn đó treo cao câu "Năm sau đến Hoàng Sa". Thật thú vị, tôi cũng thấy thêm một vài người treo khẩu hiệu đó. Hoá ra những người khắc khoải về quê hương không cô độc, dù là số ít. "Đến Hoàng Sa" chỉ là một khái niệm. "Đến Hoàng Sa" là con đường rất dài – có thể dài hơn con đường đến Jerusalem, có thể dài hơn cả 2.000 năm của người Do Thái, nhưng đó là con đường của những người yêu tổ quốc mình.

Nhiều năm, tôi vẫn không thể nào giải thích được trọn vẹn về ý nghĩa "tổ quốc". Nhưng trong trí tưởng tượng của mình, tôi nhìn thấy đó là một ngôi nhà chung của bà mẹ Việt đã sinh ra rất nhiều đứa con.

Như trong câu hát Mẹ năm 2000 của nhạc sĩ Phạm Duy, có đứa đã là bạo chúa, có đứa là kẻ hèn, có đứa tham lam muốn bán đứng chính ngôi nhà của mẹ mình… nhưng dẫu thế, những đứa con còn lại rồi sẽ chung tay dựng lại, làm lại từ đầu, dù là tro tàn. Ngôi nhà đó – đất mẹ – và anh chị em tôi, tôi gọi tên, là Tổ Quốc.

Nhạc sĩ Tuấn Khanh
Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/01/18/to-quoc-la-gi-toi-van-tu-hoi/



Có phải con người Việt Nam đang sống ở dưới mức cam chịu, luật pháp Việt Nam thì quá yếu ớt hoặc ngành giáo dục hiện nay không còn đủ ý thức mình đang là gì trên đất nước này? Sự kiện trẻ em trong trường học bị công an tự tiện xông vào bắt đi, dẫn đi và tra tấn, dẫn đến thương tật hoặc tử vong đang diễn ra nhức nhối, nhưng mọi thứ cứ như bị dằn xuống, im lặng và trôi qua.

Điều thất nhân tâm mới nhất, là chuyện công an thôn ở huyện Tịnh Sơn, Quảng Ngãi đã tự ý đi vào trường THCS Tịnh Bắc, xã Tịnh Bắc để bắt em Nguyễn Tấn Tâm giữa giờ học, đem về đồn tra tấn để buộc em phải nhận tội ăn trộm. Sau đó, công an thôn – như một cách che chở lộ liễu qua việc cung cấp thông tin hạn chế từ địa phương, chỉ được cho biết tên là Danh – đã buộc mẹ em Tâm đến ký giấy xác nhận tội của em. Như mọi gia đình thôn quê ở miền trung, sợ hãi đồn công an và chốn công quyền, bà Trương Thị Thái, mẹ của em vội vã ký vào giấy vì nghe lệnh của công an là "ký vào, mới được cho về", hơn nữa bà quá lo lắng khi thấy con mình bị bắt từ sáng, mà đến 7 giờ tối mới được công an thôn cho gọi.

Đầu năm 2016, lá thư tuyệt mệnh của học sinh Tâm gửi lại cho gia đình sau khi uống thuốc trừ sâu, chọn cái chết để đòi lại danh dự của mình, trở thành tuyên ngôn máu của hiện thực học đường mà ngành giáo dục Việt Nam phải cúi mặt, nếu còn chút lương tri.

Từ lúc nào, nhà trường ở Việt Nam trở thành cánh cổng phụ dẫn đến đồn công an một cách công khai như vậy?

Trường hợp công an đột nhập trường THCS Tịnh Bắc bắt em Tâm đi, có thể được coi là điều bất ngờ của thầy cô, ban giám hiệu nhà trường, nhưng lẽ ra em Tâm phải được nhà trường bảo lãnh đi về cho hết giờ học, thông báo hiện tượng bất thường này cho phụ huynh em Tâm để tránh điều đáng tiếc nói trên. Hoặc ít nhất nhà trường đã phải cử người đến đồn công an để làm người giám hộ cho em Tâm.
Rất nhiều người khi đọc bản tin về cái chết của học sinh Nguyễn Tấn Tâm, đã thở dài nói rằng với tình trạng cường quyền và vô pháp của công an ở các vùng nông thôn, nhà trường có biết thì cũng đành cam chịu. Bạn có tự hỏi, nếu sự sợ hãi không có bóng dáng của pháp luật đó cứ được duy trì mãi, liệu sẽ có bao nhiêu sinh mạnh trẻ nhỏ còn treo lơ lửng trong môi trường học đường?

Hãy nhìn lại biểu đồ của ngành giáo dục, liên quan đến đến vấn nạn công an ngang nhiên dẫn độ trẻ em giữa giờ học (trong đó cũng không ít vụ chính nhà trường làm "mai mối" cho những tội ác đó). Biểu đồ đó tăng dần trong hình ảnh lạm quyền của công an địa phương, cũng như coi thường luật pháp. Từ năm 2007, khi dư luận xã hội bùng lên chuyện em Huỳnh Thị Ngọc Trâm, học lớp 5 ở trường tiểu học An Hiệp, tỉnh Đồng Tháp bị chính nhà trường giao cho công an tra tấn để xét xem em có lấy trộm tiền quỹ 47.000 đồng của lớp không, khiến em trở nên hoảng loạn và bị câm trong một thời gian dài mà không hề có sự bồi thường thoả đáng nào. Ghê sợ hơn, học sinh tiểu học mới 7 tuổi như em Lại Thị Thắm ở trường tiểu học Trung Lập Thượng, Củ Chi, Tp.HCM cũng từng bị dắt giao cho công an thẩm tra, ngay trong lúc em đang ở lớp, vì nghi em trộm tiền. Chuyện vừa diễn ra vào năm 2012, là một trong những cột mốc chạy dài đến hiện tại, với vô số sự kiện bạo lực học đường bắt đầu từ người lớn, và hôm nay là cái chết của em Nguyễn Tấn Tâm.

Chẳng lẽ, đối với học đường, ngành công an không thể tiêu hoá nổi khoản 9 điều 7 Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, nghiêm cấm các hành động có tính chất xúc phạm, hạ thấp danh dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình đối với trẻ em tình nghi vi phạm pháp luật? Và điều luật được in rành rành công khai đó, đối với các thầy cô, vẫn không đủ là chỗ dựa để bảo vệ học trò mình thay vì cam chịu, như biến nhà trường thành cánh cổng phụ của đồn công an, trong trường hợp em Tâm?

Cách đây không lâu, Bộ Giáo dục có ra thông báo, kêu gọi phụ huynh cẩn trọng trước nạn bắt cóc trẻ em ở trước cửa trường. Chua chát thay, số liệu về bắt cóc của kẻ lạ thì rất thấp, nhưng số liệu về việc công an bắt đi công khai, nhục hình và gây thương tật cho học sinh thì rất rõ, thậm chí được ghi ở trang bách khoa điện tử. Thật ngạc nhiên, khi cần thì Bộ giáo dục có thể vận dụng mọi ngành công an địa phương trong việc để bảo đảm cho những kỳ thi "sạch" theo ý muốn của mình, nhưng gần 10 năm, kể từ sự kiện em Ngọc Trâm, Bộ Giáo dục sao không thể gửi nổi một công văn khuyến cáo các công an địa phương nên hợp tác văn minh để giữ gìn môi trường cao quý của ngành giáo dục?

Nói về chuyện giá trị riêng tư của ngành giáo dục, lại chợt nhớ câu chuyện của anh bạn định cư ở nước ngoài. Những ngày đầu ở xứ người, do không quen đường xá, anh bạn khi đưa con lên xe bus của nhà trường, liền lái xe đi theo để học thuộc đường, phòng trường hợp phải đi đón về sớm. Được 2 ngày, cảnh sát đến tận nhà kiểm tra xem có đúng là phụ huynh không, còn nếu không thì sẽ bị cấm đi theo xe bus học sinh, do bị nghi ngờ là kẻ bắt cóc. Sau khi nghe chuyện, cảnh sát còn dặn anh bạn rằng phải nhớ ghé vào trường làm một I.D tag (thẻ nhận dạng phụ huynh) thì mới có thể được phép đón con về. Viên cảnh sát cho biết thêm, ngay cả trường hợp ông được nhờ đưa học sinh về, ông phải ký vào sổ và ghi rõ họ tên, chức vụ của nhà trường.

Chuyện nhà trường ở xứ người thì vậy, còn trong trường hợp em Tâm, sau khi công an thôn thấy chuyện trở nên rắc rối từ cái chết của em, nơi này đã vội vàng tuyên bố rằng học sinh Tâm từng có tiền án trộm cắp hơn 10 vụ. Ngay cả cô phó hiệu trưởng trường THCS Tịnh Bắc, cô Nguyễn Thị Thu Hoanh nghe mà phải sửng sốt trước trò tiểu xảo này. Cô khẳng định rằng mình vẫn biết em Tâm là một học sinh ngoan. Đúng là người chết hai lần, thịt da nát tan.

Một môi trường giáo dục được tôn trọng là ước muốn không của riêng ai. Một không gian văn minh và riêng tư của nhà trường phải thuộc về pháp luật, chứ không thể thuộc vào quyền lực riêng của một bí thư hay một công an xã. Nỗi đau của các phụ huynh có con cái đối diện với vấn nạn lạm quyền vô pháp phải trở thành những bài học cho đất nước. Cái chết của học sinh Nguyễn Tấn Tâm không thể bị lãng quên vô ích, nó là tiếng kêu về một tương lai khác của học đường Việt Nam: nơi đó phải là nơi trải thảm cho đường đến tương lai, chứ không thể là đường trải thảm dành cho cửa địa ngục.

Tham khảo thêm

http://tintuc.vn/xa-hoi/thieu-nien-tu-tu-de-lai-thu-tuyet-menh-to-cao-cong-an-danh-96202

Nguồn: https://nhacsituankhanh.wordpress.com/2016/01/20/trai-tham-den-dia-nguc/

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.