Articles by "TRITUE_DOTHAI"

Hiển thị các bài đăng có nhãn TRITUE_DOTHAI. Hiển thị tất cả bài đăng

Trong 20 năm thiết lập và phát triển quan hệ ngoại giao Việt Nam-Israel, hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp công nghê cao luôn đóng vai trò then chốt. Phóng viên báo NDĐT đã có cuộc phỏng vấn với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Israel Yair Shamir nhân chuyến thăm và làm việc chính thức của ông tại Việt Nam về nét nổi bật và các xu hướng chính cũng như cách thức để thúc đẩy hợp tác song phương trong lĩnh vực này.

Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Israel Yair Shamir

PV: Với diện tích đất nông nghiệp nhỏ cùng khí hậu bán sa mạc khô hạn nhưng trong những thập niên gần đây Israel đã xuất khẩu các sản phẩm và công nghệ nông nghiệp trị giá hàng tỷ đô la Mỹ. Xin ông cho biết chìa khóa thành công trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp tại Israel?

Bộ trưởng Shamir: Israel là một quốc gia có lãnh thổ nhỏ, diện tích chỉ bằng khoảng 1/15 diện tích Việt Nam với sa mạc chiếm phần lớn. Chúng tôi đã dành nhiều năm để tìm ra giải pháp cho sản xuất nông nghiệp trong điều kiện khắc nghiệt như vậy với ưu tiên tập trung vào phát triển công nghệ và nghiên cứu. Ví dụ như 40% nguồn nước sinh hoạt tại Israel hiện tại là lấy từ nguồn nước biển và nước thải được tái chế và sử dụng cho hoạt động nông nghiệp. Các kết quả thu được là rất khả quan.

PV: Nông nghiệp công nghệ cao là ưu tiên hàng đầu trong hợp tác kinh tế giữa Việt Nam và Israel trong hơn 20 năm qua. Ông có thể chia sẻ một số kết quả hợp tác trong lĩnh vực này?

Bộ trưởng Shamir: Việt Nam và Israel đang kỷ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao. Trong những năm qua, hợp tác giữa hai nước có thể được nhìn nhận rõ nét qua các số liệu về thương mại hai chiều. Trong năm 2012 thương mại Việt Nam-Israel đạt trên 1,1 tỷ đô la Mỹ, tăng gần gấp đôi so với năm trước. Các số liệu trong lĩnh vực nông nghiệp cũng đang trên đà phát triển rất nhanh. Israel mong muốn mở rộng hợp tác không chỉ trong sản xuất nông nghiệp mà còn trên các lĩnh vực khác với Việt Nam.

Chúng tôi cũng đã tổ chức các khóa học cho sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam đến Israel để tìm hiểu và làm việc trong ngành nông nghiệp cũng như các lĩnh vực khác tại đây. Với công nghệ hiện đại và kiến thức thu lượm được, chúng tôi hi vọng khi về Việt Nam, họ sẽ áp dụng được những kiến thức đã học . Họ cũng chính là những đại sứ quảng bá cho sự hợp tác tốt đẹp giữa chính phủ hai nước.

PV: Theo ông, hai bên cần có những giải pháp gì để thúc đẩy hợp tác song phương trong lĩnh vực nông nghiệp?

Bộ trưởng Shamir: Trong các cuộc gặp gỡ với Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, chúng tôi đã thảo luận làm thế nào để thúc đẩy hợp tác và vượt qua rào cản, trở ngại trong lĩnh vực này. Về cơ bản, hai nước đã đồng ý cấp một số giấy phép tạm thời nhằm mở cửa cho các sản phẩm của Israel vào thị trường Việt Nam. Hai bên cũng đã nhất trí thúc đẩy đàm phán về tự do hóa thương mại và thiết lập cơ chế hợp tác nghiên cứu và phát triển để thúc đẩy hơn nữa hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp giữa hai nước.

PV: Vậy thách thức lớn nhất trong hợp tác nông nghiệp Việt Nam-Israel là gì?

Bộ trưởng Shamir: Điều quan trọng nhất là Việt Nam phải xác định được nhu cầu của nền kinh tế và nông nghiệp của mình là gì, từ đó mới có thể đưa ra được các giải pháp cụ thể. Đó cũng chính là lý do tại sao các công ty Israel quan tâm đầu tư vào Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp vốn là thế mạnh của Israel. Họ mang đến giải pháp và công nghệ tốt nhất trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao như thủy lợi và quản lý nước.

Một vấn đề khác cần phải quan tâm đó là việc lạm dụng phân bón và hóa chất tại Việt Nam. Israel là một nước nhỏ và vấn đề môi trường là rất quan trọng đối với chúng tôi. Nếu chúng ta sử dụng quá nhiều hóa chất và phân bón, chúng ta có thể hủy hoại mọi thứ và làm giảm chất lượng nguồn nước. Vì vậy, với kinh nghiệm trong việc xử lý các vấn đề môi trường trong nông nghiệp, chúng tôi tin rằng có thể hỗ trợ Việt Nam qua việc sử dụng phân bón vi sinh, ít hóa chất và các yếu tố sinh học khác để giảm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và sản xuất nông nghiệp.

PV: Israel đang có những kế hoạch cụ thể nào để hỗ trợ Việt Nam trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao?

Bộ trưởng Shamir: Israel đang khuyến khích và dành ưu đãi cho các công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp đầu tư vào Việt Nam. Chúng tôi cũng đã công bố nhiều tài liệu về Việt Nam và khả năng đầu tư kinh doanh ở đây, cũng như hợp tác với Chính phủ Việt Nam nhằm rút ngắn rào cản hành chính để làm cho quá trình đầu tư được thuận lợi hơn. Chúng tôi cũng tạo điều kiện cho các công ty Việt Nam muốn nhập nguyên vật liệu hoặc mua các bán thành phẩm nông nghiệp từ Israel.

Bên cạnh đó, Israel khuyến khích các sinh viên Việt Nam tham gia vào các chương trình hợp tác phát triển của Israel để thấy được những gì chúng tôi đã và đang làm. Họ đến với Israel không chỉ để ngồi trong phòng học với các bài giảng trên lớp mà còn được tham gia vào các hoạt động thực tế. Chúng tôi cũng thiết lập một hệ thống liên lạc với số điện thoại và email của các đối tác Israel để hỗ trợ Việt Nam trong lĩnh này.

PV: Xin cảm ơn Bộ trưởng về cuộc trò chuyện này.

Protein mTOR – Ảnh: Wikipedia
Các nhà nghiên cứu Israel và Hoa Kỳ đã tìm hiểu nguyên nhân vì sao liệu pháp trị ung thư còn hạn chế. Những nghiên cứu tổng hợp này sẽ giúp ích cho việc điều trị ung thư sau này.

Theo Israel21c

Các nhà nghiên cứu tại Đại học tổng hợp Hebrew (Jerusalem), Viện Công nghệ California và Trường Đại học Y David Geffen thuộc Đai học Tổng hợp California (Hoa Kỳ) vừa đạt được một bước tiến đột phá trong việc tìm hiểu nguyên nhân làm cho liệu pháp chữa trị ung thư đầy triển vọng không đạt được thành công như mong đợi trong việc diệt các tế bào ung thư.

Các nhà nghiên cứu đã xem xét các vấn đề trong liệu pháp liên quan đến điều trị ức chế biểu hiện của protein mTOR (một loại protein trong người, tên đầy đủ là: mammalian target Of Rapamycin, giữ vai trò chính trong sự tăng sinh và phát triển tế bào). MTOR giữ vai trò chính trong việc xử lý truyền tín hiệu phân tử của tế bào từ môi trường của chúng, và quá trình quan sát, cho thấy protein này hoạt động rất mạnh ở bệnh ung thư.

Cho đến nay, việc sử dụng thuốc để điều trị ức chế biểu hiện của protein mTOR đã giúp diệt tế bào ung thư ở các lớp ngoài của khối ung thư, tuy nhiên lại không đạt kết quả khả quan trong các thí nghiêm lâm sàng cho việc đối phó với các lớp trong.



Nhóm nghiên cứu, trong đó có Giáo sư Prof. Emeritus Raphael D. Levine từ Viện Hóa học, Đại học tổng hợp Hebrew University (Jerusalem) và các cộng sự từ Viện công nghệ California, Trường Y David Geffen thuộc Đại học California (Hoa Kỳ) đã điều tra thành công tình trạng ảnh hưởng của việc thiếu oxy — lượng cung cấp oxy giảm — trên đường truyền tín hiệu của protein mTOR trong các hệ thống bệnh ung thư não. Đây có thể coi là nguyên nhân khiến cho việc sử dụng thuốc mTOR không có tác dụng.

Họ chỉ ra rằng các khối ung thư rắn đều thiếu một lượng oxy nhất định, cơ chế truyền tín hiệu của protein mTOR chuyển từ trạng thái này sang trạng thái khác. Ở điểm chuyển giao, các mô hình lý thuyết dự báo rằng mTOR sẽ không phản ứng với thuốc.

Những kết quả trên được đăng trên tạp chí khoa học Proceedings of the National Academy of Sciences (Hoa Kỳ)

Những chuyên gia hàng đầu Israel trong lĩnh vực công nghệ nước đã có mặt tại Đông Nam Á vào cuối tháng 8 vừa qua để tham dự một loạt sự kiện, hội thảo, với chủ đề “Tuần lễ nước Israel tại Việt Nam”. Theo IsraelNewTech



Sự kiện lớn này là cầu nối giữa các công ty và cơ quan xử lý nước Việt Nam và đối tác Israel là đại diện chính phủ và các công ty trong lĩnh vực này, cùng với sự tham gia và đồng tổ chức của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, đã góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị song phương và đưa công nghệ nước tiên tiến tới Việt Nam.

“Ngân hàng Thế giới là một đối tác lớn tại Việt Nam,” theo ông Zafrir Asaf, Trưởng phòng Kinh tế và Thương mại, Đại sứ quán Israel tại Việt Nam. “Ngân hàng Thế giới đầu tư cho Việt Nam khoảng 8 tỷ Đô la hàng năm, trong đó hàng trăm triệu đô la vào lĩnh vực nước. Hợp tác với Ngân hàng Thế giới theo tôi là cách tốt nhất để tiếp cận Việt nam vì các dự án của NHTG có tính minh bạch cao với các phương pháp kinh doanh hiệu quả.” Cũng theo ông Assaf, đại diện phía Ngân hàng Thế giới cũng rất lạc quan về việc thắt chặt quan hệ hợp tác giữa Israel và Việt Nam trong lĩnh vực nước. Giám đốc Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, bà Victoria Kwakwa đã đưa ra những nhận định trong phần trình bày của mình rằng sự kết hợp giữa các công ty công nghệ nước Israel và ngành công nghiệp này tại Việt Nam có tiềm năng mang lại kết quả rất tốt.

Tuần lễ Nước tại Việt Nam cũng là một cơ hội thúc đẩy hợp tác kinh doanh giữa hai nước. Ông Asaf cho biết nhiều công ty Israel đã và đang hoạt động tại Việt Nam được một vài năm thấy rằng sự kiện này đã giúp họ có thêm sự tiếp cận hiệu quả tới những nhà ra quyết định cấp cao trong hệ thống chính phủ Việt Nam, trong ngành công nghiệp này cũng như tới Ngân hàng Thế giới – điều mà họ chưa từng có trước đây. “Chúng tôi đã nhận được nhiều phản hồi rất tích cực về sự kiện này từ phía các công ty Israel như Netafim, Amiad, BermadOdis.” Sau Hội thảo về Giải pháp nước cho Việt Nam, một công ty công nghệ nước hàng đầu Israel đã được mời tham dự tọa đàm với Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam để thảo luận về những cơ hội trong lĩnh vực tưới tiêu vi mô.

Tuần lễ nước tại Việt Nam nằm trong các hoạt động kỉ niệm 20 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam Israel, và là cầu nối tới WATEC 2013, triển lãm và hội nghị quốc tế về công nghệ nước được tổ chức hai năm một lần tại Israel. Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã dẫn đầu đoàn đại biểu Việt Nam tham gia sự kiện này vào tháng 10 vừa qua.




Diễn giả chính của Hội nghị về giải pháp nước cho Việt Nam là Tiến sỹ Sinaia Netanyahu, hội trưởng Hội các nhà khoa học, Bộ Bảo vệ Môi trường Israel. Sau Việt Nam, Tiến sỹ Netanyahu cũng tham gia một sự kiện do Liên minh các ngành công nghiệp Thái Lan phối hợp với Phòng Kinh tế và Thương mại Israel tại Thái Lan tổ chức.

Trao đổi với chúng tôi về nhu cầu nước của Thái Lan cũng như các giải pháp mà phía Israel có thể cung cấp, Tiến sỹ Netanyahu cho biết: “Người Thái rất quan tâm tới hệ thống thoát nước, gần đây họ đã trải qua nhiều trận lũ lụt nghiêm trọng. Điều mà Thái Lan thực sự cần trước tiên là một kế hoạch chiến lược, theo sau đó là luật và quy đinh, cuối cùng là công nghệ để thực hiện chiến lược này. Israel có một số công ty giàu kinh nghiệm trong việc đưa ra kế hoạch chiến lược về hệ thống mạng lưới nước, tôi tin rằng chúng ta sẽ có sự hợp tác đầy hiệu quả.”

Tại sự kiện này, Tiến sỹ Netanyahu có phần trình bày về quản lý nước, trong đó bao gồm 3 lĩnh vực chính: các giải pháp khử mặn, đảm bảo chất lượng nguồn nước uống, và xử lý nước thải cũng như tái sử dụng nước cho nông nghiệp.

“Ở Israel chúng tôi luôn coi nông nghiệp có giá trị sinh thái cao, thay vì chỉ là gánh nặng cho môi trường ở một số nơi khác. Nước thải cũng là một nguồn nhờ có thể tái sử dụng trong nông nghiệp mà mang lại giá trị cao, thúc đẩy đa dạng sinh học và cảnh quan cây xanh, góp phần vào giá trị của một quốc gia. Chúng tôi đã nhận được sự hưởng ứng tích cực cho phần trình bày từ các đại biểu Liên Hợp quốc, Quỹ Lương thực và Nông nghiệp thế giới. Họ cũng công nhận rằng quan điểm này về nông nghiệp là hết sức tiến bộ.”

Các đại biểu Thái Lan rất quan tâm tới việc tham quan học tập tại Thái Lan, đặc biệt là về những chiến lược và công nghệ đang được áp dụng tại Israel như Nhà máy Xử lý nước thải Shafdan. “Ý tưởng là sự đáp ứng nhu cầu cụ thể của mỗi đoàn đại biểu khác nhau, ví dụ như: xử lý nước thải, xử lý nước thải công nghiệp, v.v.” Tiến sỹ Netanyahu cho biết.

Chỉ hơn 13 triệu dân nhưng chiếm gần 40% tỷ lệ người đoạt giải Nobel, người Do Thái được xem là dân tộc thông minh nhất thế giới. Một trong những “bí quyết” là dạy con biết vượt khó, làm việc nhà, liên tục đặt câu hỏi… từ nhỏ.

Những “bí quyết" này được chia sẻ trong hội thảo về phương pháp nuôi dạy con của các bà mẹ Do Thái, diễn ra tại Hà Nội sáng 30/6.

Một bà mẹ Do Thái nuôi con tài năng. Ảnh minh họa: Guardian.co.uk.

Chuyên gia giáo dục Lại Thị Hải Lý, người đã trực tiếp đến Isarel - đất nước của người Do Thái - để tìm hiểu về phương pháp giáo dục trẻ tại đây cho biết, cách nuôi dạy con của các bà mẹ Do Thái khá đặc biệt. Họ dành cho con "tình yêu đống lửa" - tức là sự nhen nhóm, khích lệ chứ không phải chỉ là cảm giác an toàn, bao bọc kiểu "tình yêu tử cung" như phần lớn các bà mẹ Việt.

Bà mẹ nào trên thế giới cũng yêu con, nhưng cách yêu và thể hiện tình yêu khác nhau. Giữa "Tình yêu dòng nước mát" và "tình yêu dòng máu đào", người Israel quan niệm nước mát chỉ giải cơn khát nhất thời còn "dòng máu đào" là tình yêu con phải nhìn xa trông rộng, đem lại lợi ích suốt đời cho con, đào tạo đứa trẻ trở thành bản lĩnh, thực sự mạnh mẽ trong đường đời.

Người mẹ Do Thái nói rằng “phụ huynh 100 điểm không bằng phụ huynh 80 điểm”. Có ba điều mà người mẹ không nên làm với con là: Không thỏa mãn trước; Không thỏa mãn tức thời; Không thỏa mãn quá mức yêu cầu của con.

"Cha mẹ ẩn giấu 20% tình yêu con để trở nên lý trí, khoa học, nghệ thuật trong cách dạy con. Ở Israel có những trường quý tộc nhưng lại đào tạo và rèn luyện cho học sinh biết được khó khăn, thử thách. Có một chỉ số được các vị phụ huynh đánh giá cao ở trẻ là AQ - chỉ số vượt khó. Càng con nhà khá giả càng cần rèn luyện chỉ số này", bà Hải Lý chia sẻ.

Người Israel tự đưa ra công thức cho chỉ số vượt khó AQ của họ là: 20% IQ + 80% (AQ + EQ) = 100% thành công. (IQ:chỉ số thông minh, EQ: chỉ số cảm xúc). Họ tin rằng điểm số tốt nghĩa là trường học tốt, trường học tốt sẽ có tấm bằng đẹp, tấm bằng đẹp sẽ có công việc tốt, nhưng công việc tốt khác với người có sự nghiệp thành công.

Những bà mẹ Do Thái luôn nhớ một câu châm ngôn “Con lừa thồ sách”, ý muốn gửi một thông điệp tới các con rằng: “Nếu chỉ đọc sách mà không ứng dụng nó trong cuộc sống thì cũng chỉ là trí tuệ chết mà thôi”.

Và vì thế, người Do Thái coi làm việc nhà là dạy trẻ cơ hội sinh tồn cơ bản.Theo một nghiên cứu của Tạp chí giáo dục Gia đình tại Israel thì tỷ lệ thất nghiệp của người không biết làm việc nhà cao hơn 15 lần người biết làm việc nhà, thu nhập bình quân của họ cũng thấp hơn 20% so với người thạo việc gia đình. Họ dạy con làm việc nhà từ nhỏ, tùy theo lứa tuổi, và thông thường, trẻ 2 tuổi đã có thể tự phục vụ bản thân.

“Người Do Thái có câu nói nổi tiếng là ‘bố mẹ đừng làm quản gia mà hãy làm quân sư cho con’ ý nói hãy chỉ hướng dẫn, tư vấn cho con, đừng quá bao bọc và làm thay con mọi việc. Tuyệt đối không rơi vào căn bệnh 421 (4 ông bà nội ngoại, 2 bố mẹ vây quanh 1 đứa trẻ) vì điều đó chẳng khác cha mẹ sẵn sàng là nô lệ của con và chỉ đầu độc con mà thôi”, bà Hải Lý chia sẻ.

Đồng quan điểm này, bà Meirav Eilon Shahar, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Israel tại Việt Nam cho rằng, trong thế giới đầy biến động hiện nay, việc giáo dục con luôn cần sự điều chỉnh và đầu tư lâu dài.

Theo bà, ở bất kỳ đâu trên thế giới, cha mẹ và giáo viên luôn là hình mẫu gần gũi của trẻ, vì thế có mối liên hệ tự nhiên, ý nghĩa giữa cha mẹ và con cái. Việc giáo dục trẻ ngày nay phức tạp hơn trước đây nhiều. Thế giới ngày nay thay đổi chóng mặt và người làm cha mẹ đôi khi không bắt kịp. Trẻ có thể tiếp cận với nhiều thông tin, có khi đi trước bố mẹ một bước, chúng ngày càng độc lập và phụ huynh không thể áp đặt, nhưng vẫn phải giữ vững vị trí là người đi đầu, hướng dẫn.

Bà cho rằng không một phương pháp giáo dục nào có thể áp dụng cho tất cả trẻ. Bản thân bà có 3 người con, con trai đầu 13 tuổi, con gái thứ hai 8 tuổi và cậu út 5 tuổi, và cũng không thể dạy các con giống nhau vì mỗi bé có một cá tính và khả năng nhận thức khác nhau.

Nhưng có một điều chung cần thực hiện là các con đều cần được tôn trọng. Bố mẹ khuyến khích trẻ đưa ra ý tưởng riêng, có thể ra ngoài những khuôn mẫu thông thường, thậm chí tranh luận với người lớn. Khuyến khích con đặt câu hỏi để giúp con luôn sáng tạo, linh động... "có lúc tôi cũng thấy hối hận khi không thể thoát ra quanh những câu hỏi bất tận của con", bà Shahar đùa vui. Bà cũng động viên con tham gia các hoạt động ngoại khóa để trẻ phát huy các thiên hướng và những sở trường của mình.

“Khen ngợi con cũng rất cần thiết, khi con được điểm cao, lúc con thể hiện là một người bạn tốt ở trường... Với trẻ, thất bại cũng quan trọng. Phải để trẻ thử điều mới, phải biết liều lĩnh, để trẻ hiểu rằng không phải mọi điều đều thành công. Khi con làm sai, không phán xét trẻ, để trẻ học hỏi từ thất bại của chính mình và tìm ra cách có thể làm khác vào lần sau”, bà nói.

Là một nhà ngoại giao, phải đi nhiệm kỳ ở nhiều nước khác nhau, các con của bàMeirav Eilon Shahar cũng gặp nhiều khó khăn khi phải liên tục thay đổi nơi sống và học tập, tìm cách thích nghi với môi trường mới, tiếp xúc với nhiều nền văn hóa khác nhau. Bà luôn dạy con tôn trọng người khác, sự khác biệt.

Đến Việt Nam 10 tháng trước, các con đều thấy mới lạ, bà không yêu cầu trẻ phải thích nghi ngay mà chỉ bảo các cháu giữ tư duy tích cực, để ý đến em út. Bé út 5 tuổi không nói được tiếng Anh nên gặp khó khăn khi đến trường, giao tiếp với bạn bè. Bà đã đặt ra một thử thách cho cậu con đầu trong việc giúp em, và cậu bé 13 tuổi đã tự nguyện đi cùng em lên xe bus, kiểm tra xem ở lớp em có làm được bài tập hay có vui chơi với các bạn không... và cháu đã làm tốt hơn cả mẹ mong đợi. Sau việc này, cháu thể hiện trách nhiệm người anh hướng dẫn em chu đáo.

"Trẻ em ngoài nghĩa vụ còn có các quyền lợi: được tôn trọng, được thất bại, được có ý kiến. Nên đặt trách nhiệm cho con nhưng chỉ vừa sức vì trẻ con luôn cần được vui chơi. Bố mẹ tạo điều kiện tốt nhất cho con, ai cũng muốn con cái thành công nhưng chỉ là người tư vấn, khuyên bảo chứ không ép buộc", bà Shahar chia sẻ.

Vương Linh

Mặc dù chỉ chiếm 0,2% dân số toàn cầu, nhưng người Do Thái lại giành được 22% số giải Nobel.

Mùa Nobel năm nay chưa kết thúc, nhưng đã có tới 6 người gốc Do Thái nhận được giải thưởng cao quý này, bao gồm: 3 nhà khoa học giảnh giải Nobel hóa học: Arieh Warshel, Michael Levitt và Martin Karplus; Francois Englert giật giải Nobel vật lý và 2 nhà khoa học James E. Rothman, Randy W. Schekman được vinh danh ở giải Nobel y học, cùng với một người khác.

Ông Arieh Warshel (giữa), một trong ba nhà khoa học đoạt giải Nobel Hóa học 2013 tại cuộc họp báo ở Cambridge, bang Massachusetts, Mỹ ngày 9/10. (Ảnh: AFP)

Có 5 lý do giải thích cho xu hướng trên:

1. Hội chứng chàng David tí hon và gã khổng lồ Goliath: Dưới góc độ là một dân tộc thường xuyên bị đàn áp, người Do Thái luôn phải cố gắng nỗ lực vươn lên. Rõ ràng, quy mô dân số không cho phép người Do Thái trở thành chủng tộc hàng đầu thế giới. Vì thế, vượt lên dẫn đầu được xem là cách riêng để họ khẳng định vị thế.

2. Nguồn gốc xã hội: Người Do Thái chắc ai cũng phải nghe đi nghe lại hàng trăm lần câu chuyện vui về việc các bà mẹ ai cũng mong muốn con mình sau này sẽ trở thành bác sĩ hoặc luật sư, hoặc ít nhất là lấy được một người làm hai nghề trên. Thực ra, điều này phản ánh sự kì vọng nhiều khi biến thành áp lực đối với con cái buộc phải học đại học. Trong một hệ thống giáo dục mang tính yêu cầu cao, định hình trước như vậy sẽ càng có nhiều người đi vào lĩnh vực y khoa và luật, rồi họ sẽ thành công.

3. Tôn giáo là tri thức: Nhìn toàn cục, đạo Do Thái coi trọng học vấn và phân tích, dù không xem đây là một học thuyết bắt buộc phải nằm lòng. Luồng tư tưởng “2 người Do thái – 3 ý kiến” đã ăn sâu vào văn hóa của tộc người này. Người Do Thái không chấp nhận giá trị hời hợt, bề ngoài, mà luôn đi sâu tìm hiểu các câu hỏi “vì sao”, “như thế nào” trong mọi tình huống đời thường. Họ đánh giá cao sự phân tích, còn các tôn giáo khác thì lại coi trọng tín điều.

4. Cơ chế tồn tại: Sau sự phá hủy của Đền thờ thứ hai (the Second Temple) – một trung tâm tín ngưỡng và tôn giáo của người Do Thái trên Núi Ôliu, chủng người này nhận thức rõ họ cần phải hay chữ để tiếp tục tầm sưu và luyện đạo. Chính sự hay chữ này đã giúp đạo Do Thái tồn tại, đưa tộc người này không bị đồng hóa bởi các nền văn minh xung quanh. Đó chính là một ưu thế nổi trội của người Do Thái kể từ thời Trung cổ.

5. Người Do Thái - người ngoài cuộc: Chính vì những lối suy diễn này mà người Do Thái đã học được cách cẩn trọng, đến mức không tin tưởng vào người khác. Những đánh giá thâm căn cố đế cho rằng người Do Thái sinh ra là để phục vụ thế giới đã tạo điều kiện cho họ có cái nhìn qua lăng kính rất riêng. Nếu như người nào đó luôn bận tâm với câu hỏi truy đến cùng “sự thực” họ sẽ lao vào nghiên cứu, phân tích và cuối cùng sẽ được đền đáp bằng những khám phá bất ngờ.


Không thể tiếp tục tranh cử, Micheal Bloomberg chỉ còn làm thị trưởng trong một vài tuần nữa. Thời của ông, New York đã trở nên an toàn hơn và sạch sẽ hơn.

Trong góc phòng làm việc của Micheal Bloomberg, gần chiếc đồng hồ đếm ngược những ngày cuối cùng ông còn ngồi trên chiếc ghế Thị trưởng New York có một bức vẽ hoạt hình lớn với hình ảnh chiếc trực thăng. Vắt trên thành cửa sổ buồng lái là một chiếc khăn tắm với dòng chữ “Bermuda”. Nhờ vào đế chế cung cấp thông tin tài chính hàng đầu mà ông đã lập nên, Bloomberg là một trong những người đàn ông giàu nhất trên thế giới. Forbes ước tính ông có tới 31 tỷ USD tài sản. Không có gì đáng ngạc nhiên, Bloomberg sở hữu trực thăng riêng và một ngôi nhà làm nơi nghỉ dưỡng cuối tuần tại Bermuda.

Người dân New York đã quá quen với những năm tháng đầy ắp sự kiện với thị trưởng hiện tại: dọn sạch đống đổ nát sau khủng bố, chiến đấu với khủng hoảng tài chính và cả siêu bão Sandy. Họ đã bầu ông làm thị trưởng tới 3 lần sau những chiến dịch tranh cử tốn kém (Bloomberg đã tự bỏ ra hơn 100 triệu USD để tranh cử cho nhiệm kỳ cuối cùng). Micheal Bloomberg đắc cử lần đầu với tư cách là thành viên đảng Cộng hòa và sau đó là người độc lập. Khối tài sản khổng lồ giúp ông không phải vướng vào những vụ án tham nhũng và không phải tìm kiếm tiền từ nhà tài trợ.

Không thể tiếp tục tranh cử, Micheal Bloomberg chỉ còn làm thị trưởng trong một vài tuần nữa. Thời của ông, New York đã trở nên an toàn hơn và sạch sẽ hơn. Nỗ lực cải thiện sức khỏe cho người dân New York (ban hành lệnh cấm hút thuốc ở nơi công cộng, kiểm tra lượng calo của thực đơn ở các nhà hàng) được thực hiện nghiêm chỉnh. Hệ thống trường học cũng được cải thiện (mặc dù chưa đồng đều). Dẫu vậy, thu nhập thực của người dân New York không tăng lên nhiều và chênh lệch giàu nghèo lên đến mức báo động.

Đến thăm thị trưởng New York ở City Hall, người viết bài này nảy ra một câu hỏi: liệu có phải những gì Bloomberg đã làm được nên trở thành bài học cho nền chính trị nước Mỹ? Đôi lúc, ông bị gọi là một người theo chủ trương ôn hòa. Tuy nhiên, điều này không thực sự đúng. Mặc dù là người theo khuynh hướng tự do trong các vấn đề xã hội như quyền của người đồng tính, ông đã khiến những người ủng hộ tự do thất vọng khi ủng hộ việc cảnh sát tìm kiếm người da đen trẻ tuổi. “Lục soát” đã giúp giảm tỷ lệ tội phạm. Khiến bọn trẻ sợ hãi và không dám mang súng là một phần quan trọng”, Bloomberg từng nói.

Sự kết hợp giữa tự do, bảo thủ và hoạt động thiện nguyện đã tỏ ra hiệu quả ở một thành phố như New York. Lượng khách du lịch đổ đến đây cao kỷ lục. Thậm chí, chênh lệch giàu nghèo cũng được cho là có nguyên nhân xuất phát từ việc New York quá hấp dẫn đối với tầng lớp siêu giàu – những người mở ra các cửa hàng sầm uất và đóng rất nhiều thuế.

Tuy nhiên, đây cũng là điều chỉ có ở New York. Giờ đây, người dân New York đã sẵn sàng cho sự thay đổi. Cuộc bầu cử sắp tới cho chiếc ghế thị trưởng New York được dự báo sẽ nghiêng về Bill de Blasio – nghị sĩ cánh tả đảng Dân chủ vốn là người chống lại Bloomberg. Ông này hứa hẹn sẽ tăng thuế thu nhập và giải quyết tình trạng New York quá đắt đỏ.

Micheal Bloomberg cũng gắn liền với hình ảnh một kẻ không mấy tốt đẹp bỏ hàng triệu USD cho các chiến dịch chính trị nhằm áp đặt các giá trị của một thành phố lớn vào tầng lớp trung lưu ở Mỹ. Các chiến dịch cải cách giáo dục và kiểm soát súng đã khiến ông mắc kẹt với các cuộc chiến tranh cử trên phạm vi toàn nước Mỹ. Không phải lúc nào những đồng tiền của ông trùm truyền thông cũng được chào đón.

Những người ủng hộ cho rằng Bloomberg là người đi tiên phong cho chính trị kiểu mới. Những cuốn sách có tựa đề như “If Mayors Ruled the World: Dysfunctional Nations, Rising Cities” (tạm dịch: Nếu các thị trưởng thống trị thế giới: các quốc gia kỳ dị và sự trỗi dậy của các thành phố) lập luận rằng các thành phố đã có được sức mạnh đủ để phá tan bế tắc gây ra bởi tình trạng lưỡng đảng.

Các thị trưởng có thể giải quyết những vấn đề nhìn thấy được như thu gom rác, chống lại tội phạm hoặc sửa chữa trường học. Họ mong muốn ông Bloomberg, thông qua những cơ quan như C40 (mạng lưới các thành phố lớn phối hợp giảm hiệu ứng khí thải nhà kính), vươn tầm ảnh hưởng đến toàn cầu. Washington đang đổ vỡ và thậm chí phải đóng cửa bởi những cuộc tranh luận không ngừng giữa hai đảng. Ngược lại, những thị trưởng xuất sắc đang làm rất tốt công việc của mình với nhiều sáng kiến cải cách.

Bloomberg đã làm được nhiều thứ cho New York. Hãy vui mừng nếu như ông có thể cống hiến những năm tiếp theo cho việc giúp đỡ các thành phố thay vì đi chơi golf.

Economist



Bạn đã từng tự hỏi làm thế nào một người thợ mỏ ở Chile có thể tồn tại trong hầm mỏ trong 69 ngày mà đôi chân của họ không bị nhiễm khuẩn? Một sáng tạo mới của Israel đã giúp họ giảm thiểu tình trạng này.

Bạn cần kiểm tra nhiệt độ cơ thể, đường trong máu hay điện tim đồ ngay tức khắc? Bạn chỉ cần sở hữu một điện thoại thông minh với các chức năng như thế và hơn thế nữa.

Bạn muốn chỉnh chứng khép chân ở trẻ em trong 6 tuần mà không cần biện pháp bó chặt?

Video dưới đây giới thiệu một vài trong số hàng loạt những phát minh mới đang được ra đời tại Israel trong lĩnh vực khoa học đời sống.



Life watch là một công ty toàn cầu với những giải pháp chăm sóc sức khỏe và điều trị từ xa nhờ công nghệ thông tin di động. Gần đây, công ty này vừa cho ra đời Điện thoại thông theo dõi sức khỏe thông minh Life watch 5 – sản phẩm sáng tạo đột phá trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe từ xa. Sử dụng như một điện thoại bình thường, nhưng Life watch 5 có thêm tính năng theo dõi tình trạng cũng như kết quả kiểm tra sức khỏe cá nhân. Điện tâm đồ, một trong những xét nghiệm quan trọng nhất, giờ đây được thực hiện chỉ bằng thao tác giữ điện thoại cố định. Thiết bị mới này cũng cho phép kiểm tra đường trong máu cho bệnh nhân tiểu đường bằng cách đưa que thử vào trong phần trên của điện thoại. Bạn cũng có thể đo lượng oxy trong máu, nhiệt độ cơ thể, lượng mỡ trong cơ thể. Đây là một thiết bị thông minh mang tính sáng tạo được thiết kế và sản xuất tại công ty Life Watch Technology, Rehovot, Israel.

Sản phẩm tiếp theo là EarDoc hỗ trợ điều trị chứng viêm tai giữa. Khi bạn bị viêm tai giữa, chất dịch hình thành bên trong tai giữa, gây ra áp lực lên phần màng tai. Chất dịch này cũng khiến vi khuẩn sinh sôi bên trong tai. EarDoc hoạt động với cơ chế rung và các rung động này sẽ đi qua xương chũm đến vòi nhĩ, giúp dẫn lưu dịch ra khỏi tai. Khi không còn dịch, bạn sẽ không còn cảm thấy đau đớn hay bị áp lực trong tai nữa, và vi khuẩn cũng không thể phát triển. Chúng tôi sử dụng sản phẩm này để trị viêm tai giữa, cũng như trợ giúp cho các hoạt động bơi lội, lặn hoặc cho các chuyến bay, khi bạn bị viêm tai do áp lực khí – áp lực này gây ra đau đớn.

Cupron Inc. đã sản xuất ra một loại tất đặc biệt dành cho các thợ mỏ, với chất đồng giúp vi khuẩn không xâm nhập được vào chân người thợ mỏ, khi họ hoạt động trong hầm mỏ. Công nghệ này dựa trên chất liệu là đồng – một loại khoáng cổ quí đã được sử dụng từ rất lâu, từ người Ai Cập cổ cho tới người Phonicia, người Hi Lạp và Roman. Đồng giúp diệt bụi khuẩn, vi khuẩn và nấm một khi chúng tiếp xúc với đồng. Chúng tôi phân tích đồng với các tính chất của nó. Ví dụ trong môi trường bệnh viện, khi chúng ta cho đồng vào chất liệu đồng phục, tỉ lệ bệnh nhân bị sốt giảm 50%, cũng như giảm đáng kể tỉ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm khác. Kết quả thật tuyệt vời.

Unfo Med Ltd.: Chúng tôi đã nỗ lực nghiên cứu sản phẩm giày này trong vòng 7 năm qua, Đây là một giải pháp cho chứng khép chân. Thực ra đây là một sản phẩm mang tính sáng tạo, và lần đầu tiên được công bố. Trong vòng 150 năm qua, giải pháp duy nhất là nắn chân trẻ em. Cơ bản, sản phẩm này dựa trên nguyên lý áp suất bên trong chiều phía bên trong, cũng như từ phía dưới, từ trái qua phải. Kết quả phân tích khả quan, và chỉ trong 6 tuần, bạn gần như bình phục hoàn toàn.

Qure là một công ty Israel ra đời từ ý tưởng của Uri Ginsburg – một bác sỹ nhi khoa, với hệ thống kết nối mạng lưới bác sỹ khắp nơi trên thế giới. Hệ thống này cho phép bất kì bác sỹ nào gia nhập mạng lưới tìm kiếm đồng nghiệp cũng như kết nối với đồng nghiệp mới, thông qua những thông tin hiện ra trên trang cá nhân của họ.

Những sáng tạo khác như thiết bị chỉnh hình (của công ty Orthoflex) thay cho khuôn bó bột mà không cần tháo bỏ khi vào chụp X-quang vì thiết bị này cho phép tia X-quang đi qua, cũng như rất thuận tiện và tiết kiệm thời gian khi tiến hành phẫu thuật…



VitalGo – Chúng tôi đã phát minh ra sản phẩm giường nằm bệnh nhân VitalGo Total Lift Bed. Đây là loại giường nằm tiên tiến hiện đại nhất trên thị trường thế giới hiện nay, với cấu tạo có thể điều khiển vị trí để đưa bệnh nhân từ tư thế nằm sang tư thế đứng hoàn toàn, và sau đó bệnh nhân có thể ra khỏi giường một cách dễ dàng. Giường bệnh này rất phù hợp cho các trường hợp bỏng, cấp cứu, hồi sức cấp cứu, với hai ưu điểm vượt trội:

- Bộ phận đỡ bàn chân có thể di chuyển được giúp bệnh nhân cử động và chuyển từ vị trí nằm sang đứng và có thể bước ra khỏi giường dễ dàng và nhanh chóng

- Ưu điểm thứ hai là bộ phận đỡ chân đặc biệt với thiết bị cân bằng được gắn vào bên trong, giúp kiểm soát sức nặng của bệnh nhân. Đây là một tính năng đặc biệt mà hiện chưa có thiết bị nào trên thế giới có được.

HemaClear với sản phẩm giúp đẩy gần như hoàn toàn lượng máu ra khỏi khu vực cần can thiệp, để có thể tiến hành giải phẫu mà không chảy máu. Đây là một phát minh hỗ trợ giải phẫu giúp bác sỹ có thể kiểm soát hoàn toàn các thao tác trong ca mổ, đồng thời cũng giúp bệnh nhân rất nhiều vì họ sẽ không mất chút máu nào. Sản phẩm này do “Haifa-it” phát minh, thiết kế và đã được cấp bằng sáng chế và sản xuất tại Haifa, Israel.

Công ty Rimed với sản phẩm Doppler – hệ thống có thể đo được vận tốc lưu lượng máu trong các động mạch chính ở vùng não, không xâm lấn, và giúp chúng ta xác định tình trạng giảm bán kính hoặc tắc nghẽn ở các động mạch chính. Sản phẩm này hiện đang được các bác sỹ đầu ngành tại các bệnh viện trên toàn thế giới sử dụng, chủ yếu trong các trường hợp đột quỵ. Bạn chỉ cần áp thiết bị thăm dò vào tai, sau đó theo dõi thông số trên màn hình bảng điều khiển. Hệ thống này có thể phát hiện khối thuyên tắc di chuyển trong vùng não – một nguyên nhân gây ra đột quỵ.

FirstCare với thiết bị tiêm xương: Khi bệnh nhân ở tình trạng sốc trầm trọng, việc tìm tĩnh mạch là rất khó. Tuy nhiên, chúng ta có thể thâm nhập vào hệ thống mạch máu thông qua xương. Thiết bị này cực kỳ dễ sử dụng: sử dụng một lần và gọn nhẹ. Chúng tôi châm kim tiêm vào xương bệnh nhân trong vòng chưa đầy một giây, đồng thời sử dụng băng y tế của Israel có trang bị thanh áp lực, khi cần có thể ép vào vết thương bệnh nhân để chống xuất huyết (Sản phẩm băng y tế này được biết đến trên toàn thế giới và gọi chung là Băng y tế Israel).

Neuronix vừa thiết kế thành công một thiết bị y tế mới với công nghệ điều trị chứng bệnh Alzheimer (chứng mất trí nhớ). Nó hoạt động dựa trên việc kết hợp kích thích từ xuyên sọ duy nhất với các vùng não bị ảnh hưởng bởi chứng bệnh này, đồng thời dần dần cải thiện nhận thức cho người bệnh sao cho phù hợp với các vùng não cụ thể này. Ý tưởng là trong suốt quá trình này diễn ra đồng thời, nó kích thích não ở tầm vật lý và sinh học, nhờ các xung từ kết hợp với kích thích ở tầm nhận thức. Nhờ vào quá trình cải thiện nhận thức, chúng ta có thể tạo ra những thay đổi lâu dài trong hoạt động của não.

InSightec – Công nghệ cộng hưởng từ đã chú trọng vào hệ thống công nghệ tập trung sóng siêu âm chưa? Đây được coi là phòng phẫu thuật của tương lai. Chúng tôi kết hợp các sóng siêu âm giúp phá hủy các mô một cách không xâm lấn với thao tác chụp hình cộng hưởng từ (MRI) cho phép có những hình ảnh trực quan chính xác nhất về giải phẫu và các khối u, đồng thời cung cấp thông tin phản hồi về nhiệt độ, nhằm đảm bảo chúng ta đang ở nhiệt độ phù hợp để phá hủy mô. Hệ thống này chính là hình ảnh của một phòng mổ trong tương lai: không xâm lấn, không có bức xạ ion hóa, không cần nằm viện, giảm thiểu nguy cơ lây nhiễm và giúp bệnh nhân có thể sớm ra viện và trở về nhà cũng như cuộc sống bình thường ngay lập tức.

Nguồn: Bộ Ngoại giao Israel


Nhiều người gọi đây là 1 điều kỳ diệu. Những người khác thì coi đây là một sự khó hiểu. Nhưng số lượng các startup công nghệ từ Israel là rất đáng kinh ngạc. Một quốc gia nhỏ chỉ có khoảng 7,6 triệu người nhưng có đến 4.800 startup và thu hút số lượng vốn đầu tư mạo hiểm trên mỗi đầu người nhiều nhất thế giới. Được gọi là Quốc gia khởi nghiệp, Israel vượt qua cả Mỹ về số vốn đầu tư mạo hiểm mỗi người, với 170 USD, so với 70 USD của Mỹ. Đây là một con số không tồi chút nào cho 1 quốc gia mới thành lập 65 năm trước.

Có thể kể đến một vài startup nổi tiếng từ Insrael như Waze – công ty bản đồ vừa được Google mua lại, iOnRoad – ứng dụng di động cảnh báo tài xế khi họ đến quá gần chiếc xe khác ở trước mặt, hay Conduit – thanh toolbar cộng đồng được toàn thế giới chú ý.

Israel cũng là nơi sản sinh ra những công ty sáng tạo và đổi mới nổi tiếng như Teva – công ty sản xuất thuốc với giá trị thị trường là 43 tỷ USD và Check Point – công ty công nghệ phần mềm có trị giá 11 tỷ USD.

Vậy điều gì khiến Israel trở thành cái nôi “nuôi dưỡng” sự sáng tạo, đổi mới và phong trào khởi nghiệp như vậy? Uriel Peled – đồng sáng lập của startup chuyên tạo các mã QR Visualead của Israel – đã cho chúng ta biết lý do.

- Quân đội:

Ở Israel, hầu hết mọi người dân đều gia nhập quân đội trước khi vào đại học. Trong quân đội, rất nhiều người trở thành chuyên gia về công nghệ, bởi công nghệ là một yếu tố chủ chốt trong việc giao tiếp và hoạt động ở đây. Môi trường và văn hóa trong quân đội của Israel cũng rất khuyến khích khởi nghiệp và sự lãnh đạo. Sau khi rời quân đội, rất nhiều các người lính trẻ nhận ra rằng họ muốn tạo nên 1 công ty có thể giải quyết các vấn đề trên thế giới qua giải pháp công nghệ. Họ chỉ cần chọn vấn đề nào họ muốn giải quyết.

- Trường đại học:

Bên cạnh sự hỗ trợ từ chính phủ, Israel còn có những trường đại học xuất sắc nhất thế giới về công nghệ, như Technion tại haifa. Những trường đại học ở đây như là một sân chơi cho các nhà khởi nghiệp để gặp gỡ những người có cùng chung sở thích và có thể khởi nghiệp cùng nhau sau này.

- Tài nguyên từ chính phủ:

Chính phủ Israel rất khuyến khích các nhà khởi nghiệp trẻ mạo hiểm thành lập công ty bằng cách hỗ trợ vốn cho họ. Chính phủ nước này cũng giúp họ trong cả việc giới thiệu các startup đến với nhà đầu tư, tạo nên những quan hệ đối tác và những chương trình hỗ trợ cho các công ty mới.

- Người hướng dẫn:

Thế hệ khởi nghiệp đầu tiên của Israel giờ đây đang trong giai đoạn “nghỉ hưu”, và họ là nguồn hỗ trợ cả về tài chính và kiến thức cho thế hệ tiếp theo. Họ cũng đóng vai trò là những nhà đầu tư cho các startup mới, cũng như tư vấn cho các startup về cách phát triển mô hình kinh doanh và xâm chiếm thị trường.

Tuy vậy, 1 trong những điểm mạnh và cũng là điểm yếu của các startup Israel là họ thường phát triển công ty với một kế hoạch rời khỏi thị trường sau khi tạo được đột phá, chứ không bao giờ phát triển công ty thành 1 tập đoàn lớn. Mọi người Israel đều muốn trở thành ông chủ. Tuy vậy, để giúp kinh tế phát triển thì các nhân viên là rất cần thiết.

Nguồn: Tech In As


Thường thì quốc ca của những nước khác khá hùng dũng , điệu nhạc mạnh mẽ , hành quân , ca ngợi tinh thần chiến đấu và tự hào dân tộc .
Nhưng quốc ca Do Thái thì hoàn toàn ngược lại , giai điệu nhẹ nhàng , với 1 niềm hy vọng khát khao không bao giờ bị dập tắt của người Do Thái
Lời dịch tiếng Việt:
Sâu thẳm trong trái tim
Linh Hồn người Do Thái khao khát
Và tiến về phía trước phương Đông
tới Zion , một con mắt nhìn
Hy vọng của chúng ta sẽ không mất
Niềm Hy Vọng 2000 năm
Để trở thành một quốc gia tự do trong mảnh đất của chúng ta
Mảnh đất của Zion và Jerusalem
Lời dịch tiếng Anh :
As long as deep in the heart,
The soul of a Jew yearns,
And forward to the East
To Zion, an eye looks
Our hope will not be lost,
The hope of two thousand years,
To be a free nation in our land,
The land of Zion and Jerusalem.
Lời gốc
Kol od balevav p’nimah כל עוד בלבב פנימה
Nefesh Yehudi homiyah נפש יהודי הומיה
Ulfa’atey mizrach kadimah ולפאתי מזרח קדימה
Ayin l’tzion tzofiyah עין לציון צופיה
Od lo avdah tikvatenu עוד לא אבדה תקותנו
Hatikvah bat shnot alpayim התקוה בת שנות אלפים
L’hiyot am chofshi b’artzenu להיות עם חופשי בארצנו
Eretz Tzion v’Yerushalayim ארץ ציון וירושלים



Trong số báo vừa rồi, nơi bài nói về việc ông Loewenstein đi máy bay sẩy tay rơi xuống biển Manche, chúng tôi có nói mấy lời đến người Do Thái, vì ông ấy là người DoThái (Juif).

Do Thái là một dân tộc mất nước đã hai ngàn năm nay, hiện bây giờ họ không có một miếng đất cắm dùi, đi ở đậu hầu khắp các nước trên trái đất; thế mà họ có thế lực lớn lắm, cho đến người Âu Mỹ cũng phải lấy cái thế lực họ làm đáng lo. Như thế, há chẳng là một sự lạ mà người An Nam ta nên biết lắm ư?

Đã lâu nay, chúng tôi có ý muốn đem cái dân tộc có vẻ thần bí khó hiểu ấy mà giới thiệu cùng độc giả, tiếc vì chưa có thì giờ mà nghiên cứu cho tường tất được. Nay nhơn trong bài nói sự ông Loewenstein trót đã nói đến, vậy chúng tôi cũng ước lược mà nói luôn cái hiện tình của người Do Thái cho đồng bào ta nghe qua. Chúng tôi không dám tự phụ là khảo cứu đã kỹ càng, chỉ biết được chừng nào thì chúng tôi nói chừng nấy.

Số người Do Thái ở các nước

Người Do Thái ở tản lạc khắp các nước thế gian, số người họ tính hết được bao nhiêu, thật không có sổ thống kê cho rành rẽ. Cứ theo sáchAlmanach de Gotha, năm 1900, số người họ ở Âu châu được 7.650.000 người. Đến năm 1914, cứ như hội Thống kê số dân Do Thái báo cáo thì đã lên đến 11.000.000 người. Mới đây Do Thái niên giám kể số người Do Thái ở toàn cầu là 16.000.000 người, thế là đã tăng lên nhiều lắm!

Thế nhưng, cái sổ mục ấy chưa chắc đã là đúng. Bởi vì, dân Do Thái ở các nước, có nhiều nhà ở nơi hẻo lánh, xa chốn thành thị và nhà thờ của họ cho nên không có thể làm sổ nhơn khẩu cho phân minh được. Vậy nếu bây giờ điều tra cho thật kỹ ra thì có lẽ dân số họ còn nhiều hơn nữa, không những như trên kia mà thôi.

Có nhà làm sử đã nói rằng: Người Do Thái hiện nay cầm cả quyền kinh tế của thế gian trong tay họ; vả lại họ chỉ có túi vàng mà thôi, trong cuộc đại chiến tranh mới rồi, ai mất chi thì mất, chết mấy thì chết, còn họ không bị hại gì cả, mà cái túi vàng của họ nhơn đó càng nặng thêm. Nhơn vì không bị tổn hao và sự sanh hoạt được sung túc, cho nên người họ sanh sản ra đông lắm và mau lắm.

Nhà sử gia ấy nói như vậy rồi kết luận rằng số dân Do Thái hiện thời đây có lẽ lên đến hơn hai mươi triệu chớ chẳng chơi. Như vậy là suýt soát với số dân An Nam ta rồi.

Vì sao dân Do Thái lan ở các nước

Trong đoạn nầy chúng tôi không dám nhận làm một đoạn nghiên cứu lịch sử Do Thái, chỉ nói qua cho biết mà thôi.

Dân tộc Do Thái vốn ở đất Palestine, về miền Tiểu Á Tế Á (*), đất ấy sau cơn chiến tranh 1914-1918 thuộc về nước Anh cai trị.

Theo sách Cựu ước (Ancien Testament) thì dân Do Thái là "tuyển dân" của Đức Chúa Trời (peuple élu) nghĩa là một dân tộc được Chúa Trời lựa chọn.

Nguyên hồi đầu dân tộc ấy mới phát sanh ra, họ đã thờ phượng một mình Đức Chúa Trời mà thôi, tức gọi là Nhứt thần giáo (Monothéisme). Bởi vậy, phàm sự gì thuộc về vận mạng của dân tộc họ, họ đều tin cậy ở ý chỉ Đức Chúa Trời.

Dân Do Thái đầu hết ở đất Mésopotamie, sau dời đến Palestine, rồi lại lưu ngụ ở nước Ai Cập. Ở đó, họ bị người Ai Cập ngược đãi đến ba bốn trăm năm. Vào khoảng trước giáng sanh 1320 năm, giữa họ nổi lên một bậc thánh triết gọi là ông Moise, tự xưng là vâng lịnh Đức Chúa Trời, đem hết thảy dân Do Thái ở Ai Cập trở về đất Palestine.

Từ đó, người Do Thái chinh phục các dân tộc khác ở chung quanh mình và tự lập thành một nước. Trong nước họ bấy giờ không lập vua, công cử lên một vị gọi là Thầy tế lễ cả để cai trị, cầm cả quyền chánh trị và tôn giáo. Sự cai trị thì lại cứ tuân theo giới mạng và luật pháp của Đức Chúa Trời mà đã do ông Moise truyền lại cho.

Đến năm trước giáng sanh 1055, người Do Thái mới bắt đầu lập vua. Có ông vua danh tiếng nhứt là vua David, bắt đầu đóng đô tại Jérusalem. Song đến con là vua Salomon nối ngôi thì lại xa xỉ và chuyên chế quá, làm cho dân không chịu nổi. Trước giáng sanh 953 năm, vua Salomon thăng hà thì trong nước nổ loạn, chia ra làm hai nước: phía nam gọi là Do Thái,(1) phía bắc gọi là Israel.

Từ đó về sau, dân tộc Do Thái càng ngày càng yếu, cho đến năm trước giáng sanh 722 và 588 tức là thời kỳ La Mã đương hưng thạnh, thì Do Thái và Israel nối nhau bị La Mã chinh phục và mất nước.

Phần nhiều dân Do Thái bị ngược đãi trong xứ ở mình thì bỏ mà đi ra ở ngoại quốc từ lúc đó cho đến bây giờ. Trong đất Palestine hiện ngày nay, chỉ còn một số ít người Do Thái còn ở lại đó mà thôi.

Cũng thì là dân mất nước, song dân Do Thái có một điều đặc biệt hơn các dân mất nước khác. Sự ấy chúng ta cần nên biết, vì nó đã làm cho cái lịch sử vong quốc của họ trở nên vẻ vang. ấy là từ đó đến giờ, mỗi năm nhằm ngày kỷ niệm mất nước của họ thì bao nhiêu người Do Thái còn ở lại trong đất Palestine, bất luận già trẻ trai gái, đều về cả tại thành Jérusalem, ôm lấy tường thành mà khóc.

Theo sách Cựu ước thì những sự dời chỗ ở, lập vua, mất nước, tản ở ngoại quốc của dân Do Thái vừa kể trên kia đều do ở ý chỉ tiền định của Đức Chúa Trời.

Muốn rõ cả mọi điều đó thì phải đọc cả bộ Cựu ước. Ở đây chúng tôi chỉ nói sơ một điều quan hệ mà thôi.

Các đấng tiên tri trong dân Do Thái, ở trước Jésus Christ một vài ngàn năm hoặc năm ba trăm năm, đều có nói tiên tri và chép những lời mình vào sách mà rằng: "Sau nầy Đức Chúa Trời sẽ sai xuống cho dân Do Thái một đấng gọi là Messie (tức Christ, nghĩa là cứu thế), song dân Do Thái không tin theo, thì Chúa sẽ phạt cho, làm cho bị dân khác chinh phục mà mất nước, và phải tan lạc đi ở đậu các nước trong thế giới."

Đến chừng Jésus Christ (người Do Thái dòng vua David) ra đời, xưng mình là đấng Messie bởi Đức Chúa Trời sai xuống, song phần nhiều dân Do Thái không tin theo người. Trong lúc ấy chính là lúc dân Do Thái bị ngược đãi và bắt đầu lưu tán, cho nên người ta nói rằng lời tiên tri ấy đã được ứng nghiệm. Dầu vậy mặc lòng, cho đến ngày nay, phần đông người Do Thái cũng không chịu tin theo Jesus Christ mà vẫn cứ còn đợi đấng Messie.

Nhơn đó cũng nên nói qua về tôn giáo của dân Do Thái. Tôn giáo của họ gọi là "Do Thái giáo" (Israélisme), theo luật pháp ông Moise tin một Đức Chúa Trời, mà không tin Jésus Christ; nhận sách Cựu ước điển mà không nhận sách Tân ước của môn đồ Jésus Christ làm kinh viết ra.

Cái đặc tánh của người Do Thái

Trong bài trước đã nói người Do Thái là "tuyển dân" (peuple élu) của Đức Chúa Trời và tôn giáo của họ ra làm sao, vì vậy mà họ có những tánh chất đặc biệt không giống như các dân tộc khác.

Họ có những tánh tín ngưỡng, tự phụ, đoàn kết, và nhẫn nại.

Thật không có dân tộc nào trong thế gian nầy có cái đức tin cho mạnh bằng người Do Thái. Hiện bây giờ người họ ở khắp các nước, mà ở nước nào thì nhập tịch nước ấy song chẳng hề chịu ảnh hưởng của văn hóa nước ấy chút nào. Bao nhiêu những sự thuộc về tôn giáo, chánh trị, pháp luật, vệ sanh, cả đến những của gì đáng ăn, của gì không đáng ăn nữa, họ cũng đều tuân theo lời trong sách Cựu ước mà Đức Chúa Trời đã phán truyền cho họ.

Vì trong Cựu ước có nói tiên tri rằng dầu Đức Chúa Trời phạt dân Do Thái mà ghét bỏ họ trong một thời lâu, song về sau ngài sẽ đoái thương đến họ, dắt đem trở về đất cũ, hầu để lập quốc lại và trở nên vẻ vang hơn các dân tộc khác; cho nên người Do Thái tin đó mà sanh ra lòng tự phụ kiêu căng. Họ nhận Đức Chúa Trời là chúa riêng của mình, còn mình là con riêng Đức Chúa Trời, mỗi khi nhớ đến ông Abraham, ông Isaac, ông Jacob ngày xưa(2) đã nhờ ơn Chúa thế nào, thì lại tin rằng lời hứa ấy rồi đây sẽ ứng nghiệm trong kỳ nó. Bởi vậy, người Do Thái dầu ngày nay đương ở trong cái cảnh lưu ly cực nhục, song chẳng những không nguội lòng thì chớ, mà lại còn sanh ra cái dã tâm muốn thống nhứt thế giới nữa kia. Thử xem một đoạn trong sách Tư tưởng chiến thắng và người Do Thái của ông bác sĩ Penthatull, người Do Thái, xuất bản năm 1923 tại nước Autriche, thì đủ biết cái lòng tự phụ của họ là thế nào. Đoạn ấy như vầy:


"Người Do Thái chúng tôi không có thành kiến chút nào; đối với mọi sự vật trên đất, chúng tôi xem xét rất rõ ràng; chúng tôi thường dám có cái tinh thần mà người khác không dám có.

"Bởi có cái tinh thần ấy, cho nên, dầu ở trong các nước Âu Mỹ, không tấn tới được mấy chút, song giá ở trong một hòn cù lao nào thì chẳng qua trong 50 năm, chúng tôi sẽ làm chủ nhơn trong cù lao ấy. Trong thế giới không cứ việc gì cũng phải cần đến chúng tôi(**), vì mọi nơi dưới biển trên bờ đều có dấu chơn con nhà Do Thái. Con nhà Do Thái chúng tôi đã lanh lẹ lại siêng năng, cái chỗ mục đích kia một ngày chưa đạt đến thì chúng tôi còn chưa biết mỏi mệt..."

Nói về cái tánh đoàn kết của họ thì thật không có dân tộc nào bì được. Những dân tộc có lãnh thổ, có chánh phủ đã thành ra quốc gia rồi mà biết đoàn kết với nhau thì có lạ gì. Cái nầy người Do Thái bị tan lạc, bị xua đuổi, ở không yên ổn, rày đó mai đây, mà giữa họ nghiễm nhiên có một cái đoàn thể bền chặt và thiêng liêng, như vậy mới là đáng quý.

Kể từ năm trước giáng sanh 70 năm, thành Jérusalem bị hủy phá, cho đến năm 135, khoảng đó là khoảng người Do Thái bị tan lạc. Bấy giờ một mớ thì chạy về các nước phương Tây như I-ta-ly, Y-pha-nho; một mớ thì chạy về các nước phương Đông như Syrie, Perse; còn một số ít người ở lại trong đất Palestine thì đổi họ và không dám ra mặt.

Trong lúc ấy những người Do Thái chạy sang phương Tây còn được phục tùng một vị chủ giáo của mình, song cũng phải tùy theo hoàng đế La Mã, khi nới cho thì được, khi cấm đi thì thôi. Cái cơ quan khi chùng khi sáng ấy tồn tại được hơn 400 năm, về sau phải tiêu diệt và trên lịch sử không thấy nói đến vị chủ giáo của dân Do Thái nữa.

Những người Do Thái chạy sang phương Đông thì tôn dòng dõi vua David nối nhau làm vua mình, gọi là "vua trốn" ở tại thành Ba-bi-lon. Các ông vua trốn đó cũng còn được cai trị dân mình và liên lạc cùng vị chủ giáo phương Tây nữa. Đến năm 1005, giáo chủ đạo Hồi Hồi coi người Do Thái là cừu địch cầm tù vua trốn là Ezéctias và giết đi lại đuổi hết thảy người Do Thái phải dời đi nơi khác, từ đó về sau họ không có chánh phủ ở ngoại quốc nữa.

Cũng từ đó người Do Thái tan lạc càng rộng ra, lần lần xuống á châu, sang Mỹ châu, không những ở Âu châu mà thôi, cho đến bây giờ thì khắp trên mặt đất đâu đâu cũng có họ.

ở tan tác như vậy thì làm thế nào mà đoàn kết với nhau? Người ta nói rằng người Do Thái có một thứ chánh phủ kín. Có người đã tìm ra hai bức thơ của họ gởi cho nhau về hồi thế kỷ thứ 15 mà đoán rằng họ phải có cái cơ quan bí mật ấy.

Muốn cho thứ chánh phủ kín ấy tồn tại luôn, khỏi bị người phát giác ra, thì phải dùng những cái thủ đoạn rất thần bí rất cẩn thận mới được. Lại muốn cho cái chánh phủ ấy không tỏ ra, đối với đoàn thể Do Thái không có sự liên thuộc về giai cấp, như vậy mà lại giữ cho đoàn thể được vững bền, chủng tộc được thuần khiết, sự tín ngưỡng được chuyên nhứt, khỏi bị đồng hóa với người ngoài, thiệt là khó thay, e chỉ có một mình dân tộc Do Thái mới có cái ý chí lạ lùng như vậy.

Đến thế kỷ thứ 19 và sau, nghĩa là từ hồi Pháp quốc Cách mạng phát biểu lời "Nhân quyền tuyên ngôn", người Do Thái mới bắt đầu được giải phóng. Năm 1860 ông Adolphe Crémieux lập ra một hội gọi là "Hội liên hiệp người Do Thái trong thế giới", từ đó giữa đoàn thể Do Thái mới có được một cơ quan chánh thức, rồi các cơ quan khác càng thành lập nhiều thêm cho đến ngày nay.

Xem cả lịch sử người Do Thái từ hồi mất nước đến giờ, bị giết hại bị xua đuổi không biết mấy nơi, không biết mấy lần, mà chẳng hề nao núng, tấn thủ lại càng hăng như vậy thì biết cái tánh nhẫn nại của họ là dường nào. Cái tánh ấy, mà cả đến cái tánh khác của họ nữa cũng đều bởi nơi tôn giáo của họ mà ra.

Số tới, chúng tôi sẽ nói tiếp thế lực hiện thời của người Do Thái ở các nước và các nước đối với họ ra làm sao.

Thế lực người Do Thái trong thế giới

Trong mấy đoạn trước đã nói rằng người DoThái ở khắp các nước trong thế gian, bởi vậy, nếu họ không có thế lực gì thì thôi, bằng đã có, thì cái thế lực ấy thật là bao la cả trên mặt đất.

Một điều lạ nữa, là trong sách Cựu ước có nói tiên tri rằng người Do Thái về sau sẽ bị tan lạc, song được giàu có, thì quả như vậy, dân Do Thái bây giờ giàu hơn hết cả các dân khác. Cái thế lực của họ là ở đó.

Như ông Loewenstein mới rồi chết vì té máy bay mà bổn báo đã nói đến hôm nọ, là một người giàu nhứt trong ba nhà triệu phú ở thế gian.

Họ có nhiều tiền rồi, lại có người nữa. Nhơn tài của Do Thái không mặt nào là không có. Về kinh tế, về chánh trị, về văn học, về kỹ nghệ, bất kỳ phương diện nào, trong dân Do Thái cũng đều có người nổi tiếng về phương diện ấy.

Bởi vậy, bao nhiêu những ngân hàng lớn ở các nước phần nhiều là tiền của người Do Thái bỏ ra, cái đó đã đành rồi, mà cho đến các chức vụ trọng yếu trong ngân hàng cũng về tay họ nữa.

Họ đã cầm cả quyền tài chánh của thế giới vào trong tay, rồi thì các cuộc thiệt nghiệp(***) lớn, như là mỏ sắt, mỏ dầu, cũng đều có người họ làm giám đốc. Rồi đến quyền ngôn luận, là như các nhà báo lớn, các sở thông tin, họ cũng xen vào. Thậm chí như ông Jaurès ở nước Pháp lập ra báo L'humanité, là báo binh vực cho công lý nhân đạo, có tiếng ở thế giới ngày nay, mà người ta nói rằng, lúc mới sáng lập ra, cũng có một vài nhà tư bổn Do Thái bỏ tiền vào giúp. Lại như các giáo viên trong các trường đại học bên nước Pháp hiện bây giờ, cũng có một phần đông là người Do Thái, điều đó đã có nhiều người Pháp lấy làm khó chịu.

Cái thế lực Do Thái ở nước Pháp đã là mấy, ở nước Mỹ mới ghê cho. Nước Mỹ có tiếng là một nước rất giàu, song cũng có thể nói rằng cái giàu ấy là của người Do Thái, vì các cơ quan về tiền bạc, phần nhiều bị họ chiếm hết. Coi như hồi cuối thế kỷ thứ 17, chánh phủ New York có một lần ra lịnh đuổi người Do Thái ở đó đi, rồi có những người Do Thái giàu, có nhiều phần hùn trong các công ty thực dân, rập nhau nổi lên phản đối, làm cho chánh phủ phải tiêu hủy cái lịnh ấy. Hồi đó mà họ đã có thế lực như vậy rồi, huống chi là bây giờ; ở nước Mỹ mà còn như vậy, huống chi là các nước khác.

Nói đến nước Tàu, các đô thành lớn của nước ấy mà có dấu chơn người Do Thái chỉ độ trong khoảng vài trăm năm nay, song cái thế lực ngầm ngấm của họ cũng chẳng vừa. Một người Tàu làm sách có nói rằng: "Nước Trung Hoa mỗi một năm mất cho ngoại quốc phỏng độ 12 triệu đồng bạc (nghĩa là tiền trả lời các món công trái), trong một số tiền lớn ấy, các nước khác chỉ hưởng được phần ít, còn người Do Thái thì hưởng được phần nhiều."

Tóm lại, cái thế lực của người Do Thái đáng ghê nhứt là cái thế lực ở trong các ngân hàng. Cái thế lực trong ngân hàng có thể chỉ huy được các chánh phủ của các nước. Giả như một nước nào muốn vay một món tiền to của ngân hàng lớn nào đó, thì cái quyền muốn hỏi vay về làm chi và cho vay hay không, cũng lại ở trong tay "quân Giu-dêu" nầy. Xem bề ngoài thì cái thế lực ấy tưởng không lấy gì làm quan hệ lắm, song xét kỹ ra thì thật là đáng khiếp. Bởi vì, như người ta nói, có tiền thì tiên hay múa, nếu họ đem lòng hiểm độc bắt ngặt các chánh phủ rồi xoay qua đường khác để làm lợi cho họ, lại không có thể được hay sao? Cho đến đảng Cách mạng nào, đảng Cộng sản nào mà đã túng tiền phải vay của họ thì tất nhiên là khó mà thoát ra ngoài vòng thế lực của họ được.

Nhờ tiền bạc, nhơn tài, và tấm lòng đoàn kết của người Do Thái, nên hiện nay dầu họ chưa khôi phục hẳn được tổ quốc mình, song sự ấy cũng đã rõ manh mối ra một ít. Vì mấy lần Vạn quốc hội nghị vừa rồi, nhơn người Do Thái thỉnh cầu, đều có đem việc ấy ra bàn, và nghe như trong đất Palestine ngày nay, tuy về người Anh đại lý, song đã có một bộ phận thuộc về quyền người Do Thái ở đó.

Có điều nầy ta nên biết, là về phần người Do Thái, họ tin ở lời hứa trong Cựu ước, cho nên họ quyết rằng thế nào rồi họ cũng sẽ về mà lập quốc lại trong đất Palestine.

Các nước đối với người Do Thái - "Họa Do Thái "

Người Do Thái đã có cái thế lực lớn như đã nói trên kia, thì có khó gì mà chẳng vận động cho mình trở về cố quốc, chi đến nỗi ở gởi nằm nhờ đất người ta lâu như vậy? Đó là một vấn đề rất phiền phức về quốc tế, chúng tôi không đủ học thức mà giải minh được, chỉ nói đại lược mà thôi.

Có lẽ cũng vì cái thế lực của Do Thái to quá, làm cho các nước lấy làm lo mà còn dùng dằng chưa dám cho họ trở về cố hương. Vì nghĩ rằng trong khi họ vong gia thất thổ mà còn lừng lẫy thế này, huống chi là khi đã có một miếng đất làm nơi căn cứ.

Trong một đoạn trước đã nói rằng người Do Thái có cái dã tâm muốn thống nhứt thế giới, mà cái dã tâm ấy là sanh ra bởi tôn giáo của họ. Thật thế, đã lâu nay người Do Thái rắp toan cậy cái thế lực của mình mà thiệt hành mọi việc để cho ứng nghiệm những lời đã hứa trong Cựu ước, tức là "sẽ được trở về đất cũ và trở nên một dân làm chủ các dân". Bởi tôn giáo họ xui cho họ có lòng hy vọng lớn lao, có tánh kiêu căng lạ thường, cho nên bây giờ, cái chữ "Do Thái giáo", người ta không coi là tôn giáo nữa, mà coi như là một chủ nghĩa: khi nói đến chữ "Israélisme", tức là có bao hàm cái nghĩa xâm lược, áp bách ở trong, cũng gần gần như khi nói đến chữ "Impérialisme" là "đế quốc chủ nghĩa" vậy.

Vì vậy, các nước bên Âu-Mỹ, bất luận nước lớn hay nhỏ, đối với người Do Thái đều có một tâm lý như nhau: một đường thì ghét dơ, một đường thì lo ngại. Cách hơn trăm năm về trước, người Do Thái đến đâu thì bị xua đuổi đến đó, vả lại còn bị người ta khinh rẻ đến điều, ba chữ "người Do Thái " đã thành ra một câu dùng để mắng trong các nước. (Tức như trong tiếng Pháp khi nào mắng ai mà dùng đến tiếng "C'est un Juif" thế là mắng độc lắm, còn hơn ta nói "đồ Mọi đồ Hời" nữa.) Mà sở dĩ người ta ghét dơ quá như vậy, lại là vì họ cho người Do Thái là tham lam, gian ác và nhứt là hay cho vay ăn lời.

Cái lòng ghét dơ ấy bây giờ lại đổi ra lo ngại. Lo ngại vì cái thế lực và cái dã tâm của Do Thái. Đã lâu nay mấy chữ "Cái vấn đề Do Thái" (Le problème Juif) thường thấy ra trong báo chương sách vở của các nước luôn luôn, hình như họ muốn hiệp cả trí khôn của loài người lại để giải quyết vấn đề ấy mà đến nay cũng còn chưa có phương giải quyết.

Trong khi chưa có phương pháp nào giải quyết được vấn đề Do Thái đó, thì người ta bất giác hốt hoảng kêu lên rằng: "Họa Do Thái! Họa Do Thái!" (Péril Juif).

"Họa Do Thái!" tiếng kêu ấy cũng như tiếng kêu "Họa da vàng!" (Péril jaune), nghĩa là sợ người Do Thái hoặc giả rồi đây sẽ cậy thế lực kim tiền mà thống nhứt thế giới được chăng, cũng như người ta lo cho Nhựt Bổn hoặc Tàu là giống da vàng, rồi đây hoặc sẽ đứng phắt dậy mà làm lôi thôi cho giống da trắng vậy.

Thật vậy, giống Do Thái là giống rất nguy hiểm; người ta sợ rằng hoặc giả rồi đây họ sẽ hiệp hết thảy đồng bào tan lạc lại cùng nhau choán cả tiền bạc trong thế giới, nhơn đó mà mở buộc quyền tài chánh của các nước, làm quân sư cho đám thợ thuyền các nước, rồi có thể xoay cái quyền Vạn quốc hội nghị vào trong tay mình, như thế há chẳng nguy cho các dân tộc khác hay sao? ấy vậy, hiện nay liệt cường đương lo mà giải quyết cái vấn đề Do Thái là phải lắm, vì nó là cần kíp lắm.

Có nhiều người biết chuyện nghĩ đến hiện tình thế giới mà bật cười. Số là hết thảy các dân tộc bị áp bách ngày nay, số người phỏng là 200 triệu rưỡi, trong số ấy người Do Thái chiếm hết một phần mười hai (1/12); thế mà một phần mười hai số người bị áp bách ấy trở lại làm cho các dân tộc áp bách phải lo ngay ngáy như có cái tai vạ gì lớn hầu đến cho mình mà không biết khi nào. Rút lại, ta chỉ có thể đoán ước chừng rằng nếu trong vũ trụ này mà quả có Đức Chúa Trời, và nếu Đức Chúa Trời quả là chúa riêng của dân Do Thái, thì cái vấn đề Do Thái thật cũng khó lòng lấy trí lực loài người mà giải quyết được vậy.

Ấy thế mà, hiện thời nay, trừ An Nam ta ra không kể, còn các nước, không nước nào là không kiếm cách để ngăn ngừa cái họa Do Thái về sau; cho đến nước Tàu, có người đã lo đến rằng phải gấp gấp thiệt hành cái chủ nghĩa Tam dân để có chống cự lại với chủ nghĩa Do Thái, tức là chủ nghĩa Đế quốc mà biến hình ra vậy.

C.D.

Đông Pháp thời báo, Sài Gòn,

s.756 (14.8.1928), s.757 (18.8.1928), s.761 (28.8.1928)

----------------

(1) Chữ "Do Thái" nầy là tên nước, theo tiếng Pháp là Juda, khác với chữ "người Do Thái", theo tiếng Pháp là Juifs và trong sách đạo hay gọi là "quân Giu-dêu" (nguyên chú của PK);
(2) Abraham, Isaac, Jacob: ba ông nầy là tổ tiên người Do Thái (nguyên chú của PK).
* Á-tế-á (âm Hán-Việt) = Asia =(châu) Á;
**theo diễn đạt ngày nay, ý khẳng định này lẽ ra được viết là "…bất cứ việc gì cũng phải cần đến chúng tôi… "
*** thiệt nghiệp: như « thực nghiệp ».

Dòng họ ROTHSCHILD, Estee Lauder và George Soros, ... nếu như tiếp tục danh sách những người giàu có nhất thế giới, thì phải mất nhiều trang giấy. Nhưng, ngoài những thành công đến mức gần như cổ tích hoang đường trong tài chính kinh doanh, những con người nói trên còn có một điểm giống nhau chung khác nữa – đó là nguồn gốc Do thái của họ.



Dù cho điều này có lạ lùng đến thế nào đi chăng nữa, thì trong số những con người giàu có nhất, hầu như ở nước nào trên thế giới cũng vậy, đều có rất nhiều những người Do thái. Tại sao lại như vậy? Tại sao thành công và tiền của lại ưa thích người Do thái đến như vậy? Hay là những người dân tộc này có được trong tay những bí quyết làm giàu đặc biệt mà chỉ họ mới có? "Sự kiện là một điều không thể chối cãi được" người ta thường nói như vậy. Và sự kiện thực tế chỉ ra cho thấy là một số lượng lớn những người rất giàu có như vậy (trong một dân tộc rõ ràng còn xa mới có thể gọi là đông dân trên thế giới) không thể nào là một sự tình cờ ngẫu nhiên được. Những nhà bác học nghiên cứu những điều răn cơ sở đạo đức của Do thái giáo, và họ đã tìm khám phá ra rằng đa số những điều răn trong số 613 điều răn mà người Do thái phải tuân thủ từ thuở xa xưa đến giờ, đến tận ngày hôm nay vẫn còn nguyên tính thời đại và thực tế quan trọng của chúng. Có phải chăng là chính những điều răn và quy tắc sống đó, nằm trong máu tuỷ của người Do thái và được giữ nguyên truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác, đã giúp cho họ đạt được những thành công to lớn như vậy trong kinh doanh? Xin phép được giới thiệu tóm tắt với bạn đọc những ý tưởng cơ bản của những nguyên tắc vàng trong làm ăn kinh doanh đó.

1. Hãy coi tài sản của bạn mình cũng quý giá như của chính mình


Nếu người nào sống trung thực trong công việc làm ăn của mình và được người khác tôn trọng, thì người đó được đánh giá như là đã tuân thủ trọn vẹn những lời răn dạy của bộ Tora. Nhiều người cho rằng sống đạo nghĩa là biết giữ và tuân thủ theo những lễ nghi tôn giáo. Nhưng trong tiêu chuẩn của người Do thái, theo quyển sách dạy sống đạo Talmud của họ, thì thái độ trung thực của con người trong công việc cũng quan trọng giống như đòi hỏi tuân thủ những điều răn của Tora. Thậm chí trong sách Talmud đó còn ghi rằng, khi con người kết thúc cuộc sống của mình trên đất, đến trước mặt toà án thiên thượng để chờ đợi bản phán quyết về số phận của mình, anh ta sẽ phải trả lời câu hỏi: "Ngươi đã sống trung thực trong công việc của mình không?" Trong sách Tora có chép rằng, điều kiện để cho người Do thái còn được sống trong đất hứa, đó là những người lái buôn của họ sẽ không lừa gạt khách hàng của mình. Phục truyền 25:15 "Phải dùng trái cân đúng thật và công bình, cũng phải có ê-pha đúng thật và công bình, để ngươi được sống lâu trên đất mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi ban cho ngươi..." Một ông Rabbin Iosi người Do thái đã có một lời khuyên mà có thể áp dụng được trong mọi hoàn cảnh: "Hãy coi tài sản của bạn mình cũng quý giá như của chính mình". Tất nhiên, những lời dựa trên nền tảng của Quy Tắc Vàng: "Hãy yêu kẻ lân cận như mình". Ai đó có thể nghĩ rằng vừa giữ theo Quy Tắc Vàng vừa làm ăn kinh doanh là không thực tế, thậm chí còn quá ngây thơ nữa. Chính vì lý do đó mà họ muốn đánh giá đạo đức con người theo việc tuân thủ những nghi lễ tôn giáo mà thôi. Vì như thế thì dễ sống thực dụng hơn là việc giữ theo tiêu chuẩn đạo đức cả trong tôn giáo cả trong công việc kinh doanh hàng ngày. Thế nhưng truyền thống của người Do thái luôn nhấn mạnh điều này. Trong một đoạn Thi thiên 116 có câu "Tôi sẽ đi trước mặt Đức Giê-hô-va tại đất kẻ sống.” Những thầy Rabbin dạy luật của người Do thái trước kia rất chú ý về một đoạn câu nói "tại đất kẻ sống", vì theo lời của ông Rabbin Giehuđa, rất nổi tiếng trong thời của mình, thì cách nói đó có ý nghĩa "là một chỗ như là chợ để buôn bán" (theo Talmud Babylon). Nghĩa là có thể xét xem đức tin của một con người có thật không theo cách cư xử của anh ta nơi phố chợ, chứ không phải là nơi nhà hội. "Chỉ có người nào có thể tin cậy được trong công việc mới có thể coi là một người sống tin kính đạo đức"...

2. Đừng mua đồ ăn cắp


Cốt lõi của nguyên tắc này là những suy nghĩ sáng suốt lành mạnh. Thí dụ, nếu một người bán hàng đón gặp bạn ngoài đường rồi đề nghị bạn mua những đồ ăn thức uống với giá chỉ bằng một nửa, lại còn đem chở đến tận nhà nữa. Bạn không có cách nào để kiểm tra xem người đó đã kiếm được những mặt hàng đó một cách trung thực hay không. Nhưng trong những trường hợp này, luật của người Do thái đòi hỏi bạn phải coi người đó là không trung thực, và phải tránh không mua hàng của họ. Thông thường, người mua đồ ăn cắp không tự coi mình là người không trung thực, và vẫn cho rằng mình còn tốt hơn gấp vạn lần loại người mà đang bán hàng cho họ. Thế nhưng luật của người Do thái không đồng tình với quan điểm trên: "Cấm không được mua của kẻ trộm những tài sản nó ăn cắp được. Đó là tội lỗi, vì nó khuyến khích kẻ tội phạm và thúc giục kẻ trộm lại ăn cắp tài sản của người khác." Cuối thập kỷ 80 trên thị trường tài chính NewYork xảy ra một vụ tai tiếng lớn về việc mua đồ ăn cắp. Một nhà doanh nghiệp bỏ tiền ra để mua chuộc những nhân viên của các công ty luật và tài chính để có được thông tin về thời điểm các công ty mà ông ta có quan hệ làm ăn sẽ được đem ra bán. Biết rằng cổ phần của các công ty này sẽ lên giá nhiều, ông ta đã thu mua hết chúng và trong vài năm sau đó thu được nhiều triệu đô-la tiền lời. Thế nhưng khi vụ này phát lộ ra, ông ta và những người đã bán thông tin cho ông ta đã bị đưa ra trước pháp luật. Mua lại thông tin từ những người không có quyền sở hữu hay là bán nó – đó cũng một hình thức khác của việc tìm cách mua đồ ăn cắp. Nói một cách đơn giản – nếu ai đó tìm cách bán cho bạn cái gì không thuộc quyền sở hữu của anh ta – thì bạn không được quyền mua nó. Như trong sách Châm ngôn có nói: "Kẻ nào chia phần với kẻ trộm thù ghét chính linh hồn mình" (Châm ngôn 29:24)

3. Hãy làm những việc lành



Dù trong luật pháp và truyền thống của người Do thái việc bố thí tiền bạc được đặt vị trí rất cao, nhưng làm những việc lành bao giờ cũng được coi là quan trọng hơn Các việc lành coi trọng hơn là bố thí bởi ba lý do: - Việc bố thí chỉ dùng tiền bạc, nhưng việc lành vừa dùng tiền bạc, lại vừa có sự tham gia của cá nhân - Việc bố thí chỉ làm cho những người nghèo, trong khi việc lành có thể làm cho cả người nghèo và người giầu. - Việc bố thí chỉ làm cho những người đang sống, trong khi các việc lành có thể dành cho cả những người đang sống và những người đã chết. Luật Do thái đánh giá cao việc làm những điều lành. Thật đúng như vậy vì đó là một việc khó khăn. Càng thêm năm tháng thì nhiều người trong số chúng ta đi đến ý nghĩ cho rằng thà hy sinh tiền bạc còn hơn là thời gian, vì vậy nên truyền thống Do thái dạy rằng món quà quý giá nhất đó là thời gian và tấm lòng nồng hậu.

4. Đừng lười làm việc tốt

Một điểm chung của những người có thái độ thờ ơ không muốn giúp đỡ người khác, đó là sự bủn xỉn, thể hiện ra khi người có của không giúp kẻ bần hàn. Thế nhưng, thường xuyên gặp hơn cả là người ta không giúp đỡ người khác không phải vì sự bủn xỉn, mà là vì sự lười nhác. Không làm việc lành cho người khác chỉ vì sự lười biếng của bản thân chính là sự ích kỷ. Những việc lành đôi lúc phải đòi hỏi nhiều công sức và cố gắng, nhưng nó thật sự xứng đáng để được dành thời gian cho nó!

5. Đừng nói dối




Hãy luôn nhớ rằng trên đầu ta luôn có một cặp mắt đang dõi theo... Có một lần một thầy Rabbin đi nhờ xe ngựa kéo của một người. Đang đi giữa đường qua một cánh đồng đầy hoa quả ngon lành, bỗng nhiên người chủ xe dừng lại (không biết người mình đang chở trên xe là ai) và nói: "Tôi muốn hái ít hoa quả của cánh đồng này. Nếu thấy có ai đến gần thì ông kêu lên nhé." Anh ta đi vào cánh đồng, ông Rabbin bỗng nhiên la lên: "Người ta thấy hết rồi, người ta thấy hết rồi!" Hoảng sợ, anh chàng kia nhay lên xe và họ chạy đi. Được một đoạn anh ta ngoảnh lại và không thấy ai đuổi theo cả. "Tại sao ông lại la lên lúc nãy. – Anh ta tức giận hỏi ông Rabbin. Có ai nhìn thấy chúng ta đâu?" Khi đó Rabbin chỉ tay lên trời và nói: "Chúa Trời đang theo dõi đấy. Chúa Trời bao giờ cũng luôn theo dõi."

6. Hãy ban cho với lòng vui mừng

Theo luật của người Do thái, không được phép ban phát của bố thí với nét mặt không vui, mà phải thể hiện lòng tốt của mình ra với người nghèo. Trong quyển Mishna Tora một Rabbin nổi tiếng đã viết: "người ban của bố thí mà cau có không vui lòng thì làm một việc không xứng đáng, cho dù anh ta có ban phát cả ngàn đồng bạc. Bởi vì anh ta phải ban cho với lòng tốt, vui mừng, và thương cảm với tình cảnh của người đang gặp khó khăn" Tất nhiên tiền bạc đóng một vai trò quan trọng, nhưng thậm chí khi không có gì để cho cả, vẫn có thể ban phát lòng tốt của mình.

7. Khi có người đến xin và nói "tôi đói"

Trong một thành phố lớn có rất nhiều người ăn xin dọc đường. Điều đó không dễ chịu chút nào. Trong trường hợp đó phải biết cư xử như thế nào? Sách Talmud của người Do thái cũng cho lời khuyên cư xử cho những ai gặp phải những người ăn xin, rằng nếu người ta đến xin quần áo vật dụng, thì phải tìm hiểu kỹ xem người đó có thật sự thiếu thốn không, nhưng nếu người ta đến xin ăn, thì không cần tìm hiểu gì cả (phải tìm cách cho người ta ăn ngay lập tức, vì có thể người kia sẽ kiệt sức chết đói trong khi tra hỏi tìm hiểu) Nhưng làm thế nào khi ta không thể xác định được kẻ ăn xin đó có nói thật hay không? Có thể hắn dùng tiền đó để đi mua rượu hay thuốc kích thích? Một Rabbin đã nói như sau: "Tôi luôn vui sướng khi có cơ hội để bố thí, cho dù trong cả trăm người ăn xin chỉ có một người thực sự là cần. Nhưng có một số người cư xử cứ như là trong một trăm người có thể có một kẻ lừa đảo, cho nên họ tự cho mình quyền không bố thí”. Chính xã hội tiên tiến ngày nay nhận thức được tầm quan trọng lớn lao của công việc từ thiện để ổn định các quan hệ xã hội và giữa các tầng lớp, cho nên càng nhiều tổ chức và hàng triệu người trên thế giới tham gia các hoạt động từ thiện.

8. Đừng lãng phí thời gian vô ích



Mặc dù là còn có rất ít thời gian rảnh, một số người vẫn tìm mọi cách để giết nốt nó: bật TV lên, hoặc ngồi không chẳng lảm gì cả. Nhưng đấy không phải là chúng ta giết thời gian, mà thời gian trống đang giết chúng ta. Trong năm phút đó có thể lấy một quyển sách đọc được vài trang, hoặc nhớ lại một số ý tưởng.

Giám đốc trường đại học Yeshiva có một lần đưa vào thực nghiệm những lớp học đặc biệt chỉ có năm phút. Thậm chí cả những người sống ở xa cũng phải đến dự những lớp đó. Ông thầy Rabbin giải thích: “Tôi muốn để các bạn hiểu được rằng – thậm chí chỉ năm phút cũng làm được một điều gì đó.”

Trong quyển sách của German Vuk “Sự nổi loạn của Ca-in”, Villy, nhân vật chính, nhận được một bức thư từ cha mình. Đang chết dần vì bệnh ung thư, ông ta suy ngẫm về cuộc đời mình, về việc ông đã đạt được ít hơn nhiều so với sự trông đợi, và ông cảnh báo đứa con mình: “Nếu có thể được, con hãy ghi nhớ: không có gì, không có gì, không có bất cứ điều gì giá trị hơn thời gian. Có thể con nghĩ rằng con còn có nhiều thời gian dự trữ lắm, song thực ra không phải thế. Những tiếng đồng hồ lãng phí phá hoại cuộc đời con cả lúc trẻ, cũng như lúc gần kết cục, chỉ có điều lúc gần kết cục con sẽ cảm thấy rõ hơn và nhận thức tốt hơn mà thôi.”

Để áp dụng vào kinh doanh có thể nói rằng con người không tiêu phí thời gian, mà đầu tư nó. Vì vậy thời gian cũng giống như tiền, có thể xử dụng như một nguồn tài nguyên, mà nếu được dùng vào những hành động đúng dắn, sẽ từng bước từng bước đưa bạn đến gần những mục tiêu quan trọng của cuộc đời. Cùng lúc đó, cách xử dụng thời gian không đúng sẽ đẩy xa bạn ra khỏi việc hoàn thành những mục đích cuộc sống. Nếu tiền có thể tích góp dưới dạng tiết kiệm, thì thời gian, thật đáng tiếc thay, không thể tích góp được mà sử dụng trong tương lai. Thời gian đi mà không bao giờ trở lại, và điều duy nhất thuộc quyển của chúng ta – đó là không đánh mất nó vô ích.

9. Hãy tránh xa người láng giềng xấu.



Sách To-ra kể rằng người cháu của Áp-ra-ham là Lót đã sống nhiều năm gần ông chú mình. Sau đó cậu đã chuyển nhà đến thành Sô-đôm, là thành phố mà trong To-ra là biểu tượng của sự ác. Và mặc dù Lót chưa bao giờ giống như những người láng giềng của mình, cảm giác giống như là ông đã bị nhiễm một số điểm tính cách của họ. Vì, khi người dân thành phố đòi hỏi Lót phải đưa hai người khách cho họ lăng nhục, thì ông từ chối, nhưng thay vào đó, ông lại cư xử rất hèn hạ bằng cách đưa ra cho họ hai đứa con gái còn đồng trinh của mình. Khi Đức Chúa Trời hủy diệt thành Sô-đôm, Ngài đã đến cứu Lót, nhưng chưa chắc đã phải vì cớ ông này là người tin kính, mà là vì ông là cháu của Áp-ra-ham.

Do thái giáo cho rằng ảnh hưởng của môi trường xung quanh là rất lớn. Trong một đoạn khác của To-ra, có kể về chuyện con cháu Cô-rê thuộc chi phái Lê-vi và cả 250 người con từ chi phái Ru-bên đã liên kết với nhau để chống lại Môi-se. Nhưng người giải kinh To-ra suy nghĩ nhiều về vấn đề làm thế nảo để xảy ra chuyện con cháu Cô-rê đã liên kết được với những kẻ đồng mưu kia. Ông Rashi, một thầy giải kinh thế kỷ thứ mười một, đã giải thích thế này: trong thời gian đi trong đồng vắng, Cô-rê và gia đình đã sống vách liền vách với các con cái nhà Ru-bên. Dựa trên những gì chúng ta được biết từ To-ra, có thể đưa ra kết luận rằng Cô-rê đã dùng lời hùng biện mà gây ảnh hưởng lên những láng giềng của mình và họ đã liên kết với cuộc nổi loạn của ông ta. Ngay sau đó Đức Chúa Trời đã hủy diệt Cô-rê và những kẻ đồng lõa. Trong sách Mishne có lời chép (trong một ngữ cảnh khác) “khốn thay cho kẻ ác và láng giềng của hắn.”

Như những câu chuyện về Lót và Cô-rê cảnh báo chúng ta, cái ác có thể có ảnh hưởng mạnh hơn cả cái tốt. Thí dụ, “một đứa trẻ hư” dễ dụ dỗ “đứa trẻ ngoan” dùng ma túy hơn là “đứa trẻ ngoan” giáo dục được “đứa trẻ hư”. Đối với người lớn cũng vậy thôi. Thời đó Lót đã chẳng làm cho các láng giếng mình được tốt lên, nên ông đã không tránh được ảnh hưởng của họ.

Hãy tránh xa những người láng giếng xấu. Và, quan trọng hơn cả, là hãy để ý làm sao cho con cái bạn cũng biết cư xử như vậy.

10. Đừng nói gì, nếu không có gì để nói

Có một lần một thành viên trẻ nghị viện đã hỏi lời khuyên của Bên-gia-min Diz-ra-e-li, thủ tướng Anh quốc thời thế kỷ XIX, khi nào thì nên lên tiếng trong các vấn đề tranh cãi.

- Anh có thể nói một điều gì mới, mà trước kia anh chưa nói không?

- Không, tôi chỉ muốn người đi bầu được biết về việc tôi tham gia vào các cuộc tranh luận.

- Thế thì hãy im lặng, chẳng thà để mọi người nói về anh: “Thật thú vị, không biết anh ta nghĩ về vấn đề đó như thế nào”, còn hơn là để họ nói: “anh ta phát biểu thế để làm gì cơ chứ?” – ông thủ tướng trả lời.

Theo quan sát của ông Diz-ra-e-li, một số người lên tiếng phát biểu chỉ để cho mọi người chú ý đến sự có mặt của họ mà thôi. Có một lần ông Mal-bim (Leib Ben Jakhin Michael), một nhà bình luận To-ra nổi tiếng thế kỷ XIX và một giảng viên, đã có mặt tại một bài giảng dài dòng và vô bổ của một người về chủ đề sự suy xét nhạy bén và những quan điểm về tương lai. Cảm thấy là mình đang lãng phí thời gian, ông Mal-bim nhận xét: “sách Truyền đạo có đưa ra hai mươi hai đôi đối kháng bất di bất dịch, thí dụ như “có kỳ yêu và có kỳ ghét” hay là “có kỳ khóc và có kỳ cười”. Nhưng trong các trường hợp đó đều có cả vị trí trung gian nữa. Có thể không yêu mà cũng không ghét, hoặc không khóc mà cũng không cười. Nhưng có một đôi mà luôn luôn khiến tôi phải thực sự suy nghĩ: “có kỳ im lặng và có kỳ nói”. Cho đến ngày hôm nay tôi chưa hiểu nổi đâu là điểm trung gian của đôi đối kháng này. Nhưng, sau khi nghe bài phát biểu hôm nay, tôi hiểu rằng người ta có thể nói (không giữ sự im lặng) và cùng lúc đó chẳng nói lên điều gì cả!”

11. Hãy hạn chế cơn thịnh nộ của mình, chỉ nên giận hoàn cảnh bất lợi mà thôi.



Cơn giận làm lu mờ trí khôn, còn cơn thịnh nộ phá hủy nó. Tal-mút dạy rằng: khi người khôn đánh mất sự tự kiềm chế, anh ta cũng đánh mất cả trí khôn mình. Thí dụ, trong sách Dân số ký có kể trường hợp xảy ra với Môi-se, một nhà tiên tri vĩ đại nhất trong số các tiên tri. Đức Chúa Trời phán truyền với ông rằng ông phải ra lệnh (nói) với tảng đá, để nó chảy nước ra. Đầy bực tức vì sự lằm bằm thường xuyên của người do thái, Môi se đã giơ gậy đập vào tảng đá và la lên: “Hỡi dân phản nghịch! hãy nghe, chúng ta há dễ khiến nước chảy từ hòn đá nầy ra cho các ngươi được sao?” Trong cơn thịnh nộ chúng ta có xu hướng hành động đột ngột và nói những điều ngu xuẩn. Từ “chúng ta” có thể khiến liên tưởng rằng chính Môi-se và người anh của ông sẽ làm ra phép lạ. Môi se không muốn như vậy, nhưng người Y-sơ-ra-ên có thể nghĩ rằng chính tiên tri và anh của ông là thần. Môi-se đã bị phạt một cách rất nghiêm vì sự bùng nổ cơn thịnh nộ của mình: Đức Chúa Trời đã không cho phép ông được đặt chân và Đất hứa (Dân số ký 20:12). [từ ND & BBT: một lỗi nữa của Môi-se là ông không chỉ nói với hòn đá, mà còn giơ gậy lên đập vào nó. Nếu ông chỉ nói, mà hòn đá chảy nước ra thì thật rõ ràng là phép lạ của Chúa Trời, còn khi ông đã đập cây gậy, thì người ta có thể nghĩ rằng đấy là ông đã biết chỗ có mạch nước và dùng cây gập đập vỡ hòn đá cho nước chảy ra mà thôi.

Các bạn có thể nhớ ra được lúc nào trong cơn thịnh nộ bạn đã nói một điều mà sau đó phải hối tiếc không? Nếu không, có lẽ bạn có trí nhớ quá là kém.

Khi đánh mất sự tự kiềm chế, chúng ta thường chuyển sang tấn công cá nhân. Nhiều người xử dụng những cụm từ “cả đời”, “luôn luôn” (“Cả đời mày chẳng gì cho đúng được”), hoặc “chẳng bao giờ” (“Anh chẳng bao giờ biết nghĩ đến ai hết, chỉ biết nghĩ về mỗi mình thôi”).
Những lời tấn công như vậy làm mất lòng người ta. Anh ta sẽ không thể không nhận lỗi mình mà không thừa nhận sự vô tích sự hoàn toàn của mình: (“Đúng rồi, tôi cả đời chỉ làm hỏng việc thôi”), hoặc sự ích kỷ của mình (“Đúng rồi, tôi là kẻ ích kỷ đến tận xương tận tủy, tôi chỉ lo nghĩ đến mình mà thôi”).

Quan trọng nữa là những lời tấn công đó là bất lịch sự, vì đó là điều dối trá. Chẳng có thể nào có chuyện người mà bạn mắng đó lại tồi tệ đến mức đó.

Hãy tuân thủ những nguyên tắc giúp ta kiểm soát được cảm xúc (và lưỡi mình): hãy hạn chế cơn thịnh nộ, có tức giận thì chỉ tức giận hoàn cảnh xấu thôi. Giận bao nhiêu tùy thích, nhưng những lời nói ra chỉ hướng tới đúng những hoàn cảnh đã chọc giận bạn thôi. Khi đó bạn sẽ không nói những lời mà có thể sẽ vĩnh viễn xúc phạm người khác. Những từ kiểu như “luôn luôn” hoặc “chẳng bao giờ” và xu hướng muốn “chụp mũ” (chỉ tổng quát cái xấu) sẽ khiến người ta nói ra những lời rất khó tha thứ và không thể nào quên đi được.

Nếu bạn có tính nóng nảy, hãy cố nghe theo lời khuyên khôn ngoan của một nhà thơ và một nhà triết học thế kỷ thứ XI Sa-lô-môn-Ibi-Gáp-ri-ên: “Tôi có thể từ chối những lời mình chưa nói ra, nhưng chẳng thể nào lấy lại được những gì đã nói.”

12. Hãy xét khoan hậu về mọi hành động của người khác


Bạn có biết câu thành ngữ “Hãy xét khoan hậu về mọi hành động của người khác” chưa? Nếu chưa, thì có thể qua những bản dịch khác không hoàn toàn chính xác: “Hãy xét khoan hậu mọi người”, hoặc “Nếu còn phân vân, hãy giải quyết tốt cho người ta”.

Một thái độ cư xử như vậy có thể bị coi là thiếu suy nghĩ. Liệu chúng ta có phải đối xử khoan hậu với kẻ trộm bây giờ đang muốn xin vào làm người thu ngân ở ngân hàng? Người phụ nữ phải trả lời gì với lời đề nghị của người đàn ông, mà vợ anh ta mới đòi ly dị vì bị đánh đập? Liệu cô ta có nên theo nguyên tắc: “nếu còn phân vân, hãy giải quyết tốt cho người ta”?

Trong thực tế, dịch cho đúng ý hơn câu thành ngữ đó phải là: “Hãy xét khoan hậu về mọi hành động của người khác”. Nói một cách khác, khi đánh giá về cư xử của một người khác, đừng chỉ nghĩ về một hay là hai hành động xấu, mà phải chú ý đến cả những điều tốt mà con người đó đã làm nữa. Thí dụ, cách đây không lâu trong một tạp chí có một bài báo ra mắt để phê phán ông Oscar Shindler, trong đó chủ yếu kể về những chuyện đeo đuổi phụ nữ của ông ta. Thêm vào đó, trong thời kỳ Thế chiến lần thứ hai, Shindler cũng chẳng có gì nổi bật về những nguyên tắc trong quan hệ làm ăn.





Thực tế là ông ta cũng có những mặt tiêu cực. Nhưng ông đã liều mạng để cứu thoát hưon 1150 người Do thái khỏi tay phát xít. Sự liều mình hy sinh của ông quan trọng hơn nhiều mọi thiếu sót, và chúng ta phải tính đến điểm này.

Luân lý Do thái dạy: nếu bạn biết nhiều điểm tốt về con người và bỗng nhiên gặp phải chuyện anh ta đã phạm một sai lầm, thì đừng vội khinh thường người đó. Tốt hơn cả là hãy cố hiểu vì sao anh ta lại cư xử như vậy. Hãy tìm lý do để bào chữa cho hành động của anh ta.

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.