Articles by "EDUCATION"

Hiển thị các bài đăng có nhãn EDUCATION. Hiển thị tất cả bài đăng

Trụ sở Blue Origin, công ty chế tạo tên lửa bí mật của ông chủ tập đoàn Amazon, nằm vô danh trong một khu công nghiệp ở Washington, Mỹ, không có cả biển báo bên đường cho khách ghé thăm.

Quang cảnh bên trong nhà máy sản xuất tên lửa Blue Origin của tỷ phú Jeff Bezos. Ảnh: Blue Origin.

Theo The New York Times, tỷ phú Jeff Bezos lần đầu tiên giới thiệu toàn cảnh bên trong Blue Origin trước các phóng viên vào hôm 8/3.

Blue Origin ra đời trong bước chuyển mình của ngành hàng không từ Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA) và những "ông lớn" như Lockheed Martin sang khu vực tư nhân, đặc biệt là các công ty kinh doanh quy mô nhỏ hơn. Space Exploration Technologies, hay SpaceX do Elon Musk, một tỷ phú khác nổi lên từ mạng Internet, sáng lập là ví dụ thành công và tiêu biểu nhất cho thế hệ công ty sản xuất tên lửa mới.

Bezos chụp ảnh cùng một phóng viên tại nhà máy Blue Origin. Ảnh: Frank Morring.

Tương tự Space X, Blue Orgin cũng nuôi giấc mộng chinh phục vũ trụ nhưng gần như luôn giữ kín mọi động thái. Trong 4 tiếng, Bezos dẫn 11 phóng viên tham quan vòng quanh nhà máy và trả lời những câu hỏi sau giờ ăn trưa. "Đây là toàn bộ niềm vui của tôi. Tôi hy vọng các bạn có thể nhận thấy tôi rất yêu thích nơi này", Bezos chia sẻ.

Nhà tỷ phú mô tả hình ảnh bên trên một bức tường ở khu trung tâm của công ty, khắc họa đôi rùa đang ôm chiếc đồng hồ cát, nhìn chăm chú vào vũ trụ và các hành tinh. Bên dưới bức hình là câu khẩu hiệu tiếng Latinh của Blue Origin "Gradatim ferociter", có nghĩa là "Vững vàng từng bước". "Bạn có thể tiến nhanh, nhưng không thể bỏ qua bước nào", Bezos giải thích.

Một kỹ sư đang ráp dù che phủ tàu vũ trụ New Shepard. Ảnh: Blue Origin.

Bezos cũng trao đổi những thông tin mới về kế hoạch phát triển ngành du lịch vũ trụ của ông. Tàu vũ trụ tái sử dụng New Shepard được phóng lên rìa vũ trụ vào tháng 11 năm ngoái và trở về Trái Đất trong tháng 1. Con tàu sẽ bay lên vũ trụ một lần nữa trong thời gian tới. Tùy theo tiến trình thử nghiệm, các du khách có thể bắt đầu chuyến đi ngắn và tận hưởng vài phút không trọng lực trong vũ trụ vào năm 2018.

Đôi lúc, Bezos ngừng phát biểu và để các kỹ sư thuyết trình về động cơ mới mang tên BE-4 đang trong quá trình phát triển. Phiên bản đầy đủ sẽ đi vào thử nghiệm cuối năm nay.

Bezos thành lập Blue Origin vào năm 2000 khi rất ít người biết về công ty. Ông bắt đầu nghiên cứu về tên lửa từ năm 5 tuổi. "Tôi chưa bao giờ kỳ vọng có đủ vốn để thành lập một công ty vũ trụ cho đến khi thắng chiếc vé xổ số mang tên Amazon.com", Bezos nói. Dù từ chối tiết lộ con số cụ thể, Bezos chia sẻ đã đầu tư rất nhiều tiền cho hoài bão của mình.

Năm 2005, Bezos bắt đầu phát triển tên lửa một cách nghiêm túc trong khi không ai biết về việc ông đang làm. Trong nhiều năm, những gì diễn ra tại đây hoàn toàn nằm dưới bức màn bí mật.

Khoang chở phi hành đoàn của tàu vũ trụ New Shepard. Ảnh: Blue Orgin.

Thỉnh thoảng, tin tức được tiết lộ dưới dạng một giải thưởng của NASA, một chia sẻ trên trang cá nhân của Bezos hay video về lần phóng thành công. Năm ngoái, công ty mới đưa ra thông báo chính thức tại Mũi Canaveral, Florida, nơi Blue Origin phóng tên lửa lên quỹ đạo.

Theo Bezos, tiêu thụ nhiên liệu đang tăng 2 - 3 % mỗi năm. Ngay cả ở tốc độ vừa phải nhất, trong vòng vài thế kỷ, mức sử dụng năng lượng sẽ xấp xỉ năng lượng tạo ra từ những pin Mặt Trời hiệu suất cao trên toàn bộ bề mặt hành tinh. Tuy nhiên, trong hệ Mặt Trời có thể còn ẩn chứa nhiều năng lượng cũng như nhiên liệu thô khác và Bezos dự đoán đó sẽ là một "bước đảo ngược tình thế ngoạn mục".

Khai thác năng lượng từ vũ trụ là mục tiêu trong tương lai xa. Kế hoạch kinh doanh hiện nay của Blue Origins chia làm ba hạng mục. Đầu tiên là du lịch vũ trụ với những chuyến đi ngắn trên tàu New Shepard phóng từ West Texas.

Hầu hết các công ty tên lửa hiện thời chỉ có thể phóng tối đa khoảng 12 lần/năm. Với một nhóm nhỏ tên lửa tái sử dụng New Shepard, Blue Origins đủ khả năng thực hiện vài chục lần phóng mỗi năm.

Các kỹ sư kiểm tra khoang đốt chính của động cơ BE-4. Ảnh: Blue Origin.

Các kế hoạch kinh doanh khác bao gồm bán động cơ tên lửa cho các công ty như United Launch Alliance, để trang bị trên Vulcan, tên lửa thế hệ mới sẽ thay thế Atlas 5, Atlas 4 và phiên bản lớn hơn trong những chuyến chở hàng lên quỹ đạo.

Bezos nhấn mạnh Blue Origins tỏ ra khá kín tiếng về các động thái, không hẳn vì muốn giữ bí mật mà để tránh hứa hẹn thái quá. "Ngành công nghiệp vũ trụ thực sự rất dễ bị phóng đại", Bezos nói. Cuối năm nay, Blue Origin sẽ cung cấp nhiều chi tiết hơn về thiết kế tên lửa lớn phóng từ Mũi Canaveral.

Phương Hoa

ĐỜI NGƯỜI, ĐỜI CHÓ!
Clip người thanh niên vì một ẩn ức đau thương nào đó mà trở nên hận thù, tự tay giết hại những chú chó một cách "dã man" đã tác động rất sâu vào tâm khảm tôi. Nó khiến tôi đau đớn khi phải nhớ lại những ký ức cũ, những kỷ niệm đau buồn mà tôi đã cố gắng quên đi nhưng chẳng thể nào quên được. Đó là ký ức về “cái ác”, về sự vô lương tâm đã hằn sâu vào tâm khảm của một đứa bé 10 tuổi cho đến khi đứa bé ấy 20 tuổi.
Sự sợ hãi đó đã biến một con người mặc dù “đã chớm trưởng thành” vẫn phải trở nên “vô cảm” và đứng yên để chứng kiến một cái ác khác, để rồi về sau này, nó mãi day dứt không nguôi!

"Nỗi đau lan tỏa trong tâm khảm của một đứa trẻ, nó chỉ mới mười tuổi, lần đầu tiên nó cảm nhận được cái buốt và cái nghẹn đắng của kiếp làm chó." Ảnh: minh họa

Chính sách áp đặt buộc dân đi vùng “kinh tế mới” khiến nhiều gia đình phải từ bỏ nhà cửa, bỏ lại chốn phồn hoa đô thị để lên vùng miền núi, miền xa tập khai hoang, làm rẫy và sống đời “bần cố nông” cho cái gọi là tạo lập công bằng xã hội.
Đứa bé gái 3 tuổi bị nhốt một mình trong căn nhà lá mỗi ngày từ sáng đến chiều tối vì tất cả những người lớn trong nhà đều phải lên nương rẫy, và người bầu bạn duy nhất với đứa nhỏ là con chó lông vàng tên gọi là Mino.
Mino không biết lai giống chó gì nhưng rất to con và cực kỳ thông minh. Nó chăm sóc và bảo vệ đứa nhỏ như người anh trai, người bạn chí cốt thời thơ ấu vì Mino lớn hơn đứa nhỏ vài tuổi. Khi đứa nhỏ vừa chào đời, Mino đã là một chú chó to đùng, rất đĩnh đạc và là chứng nhân chứng kiến đứa bé gái đỏ hỏn lọt lòng tại nhà, cho đến khi cô bé biết đi chập chững...Cô bé chẳng chịu cầm tay cha, cô bé cũng chẳng cần tay mẹ mà luôn nắm đuôi Mino để tập bước những bước đi đầu đời. Người ta chỉ nghe thấy bé gái gọi cha gọi mẹ vài lần khi cất tiếng nói đầu đời để rồi sau đó họ chỉ còn nghe thấy tiếng cô nhỏ gọi Mino ơi, Mino hỡi vang vọng trong khắp căn nhà lá, nơi “giam giữ” “hai tù nhân” nhỏ tuổi...
Hai “đứa trẻ” quấn quýt bên nhau từ sáng tới tối, cùng nhau ăn thức ăn mà người lớn đã chuẩn bị sẵn, họ thường để thức ăn trên cái mâm, được che đậy bằng cái lồng bàn vừa tấm tay với của đứa nhỏ.
Tụi nhỏ chỉ chấp nhận cuộc sống “giam hãm” trong căn nhà lá được vài ngày là nung nấu kế hoạch “tẩu thoát”. Bản năng sinh tồn, ưa chạy nhảy của một con chó và bản năng tò mò của một đứa trẻ đã khiến chúng hợp tác và thành công ngoài mong đợi. Công lớn vẫn thuộc về Mino bởi đứa nhỏ 3 tuổi không thể nào suy nghĩ được phương cách tẩu thoát ra khỏi căn nhà lá khi cửa đã đóng chặt, chỉ có Mino là biết cách. Nó dùng 2 chân đào liên tục và mạnh mẽ dưới ngạch của cánh cửa, đất văng tung tóe mỗi ngày, mỗi ngày một ít cho đến khi cái lỗ hình thành…Khi những người lớn trở về nhà, họ rất bực bội khi nhìn thấy “hiện trường”, họ càm ràm, họ răn đe la rầy và vội vàng lấp lại cái lỗ hổng nho nhỏ nhưng, ngày hôm sau trở về họ lại thấy cái lỗ vẫn y xì như cũ, ngày hôm sau cái lỗ lại to hơn ngày hôm trước một chút…điều đó cứ lập đi lập lại đến mức họ mệt và chán chẳng thèm lấp lại cái lỗ đó nữa…Họ hình dung và chấp nhận sự thật đơn giản rằng con chó cần có nhu cầu đi “vệ sinh” bên ngoài chứ không phải là nơi sàn bếp và may mắn là họ đã không thể hình dung cái nhu cầu vui chơi của đứa bé gái con họ để mà kiên quyết lấp lại cái lỗ bằng nhiều cách.
Cái ngày mà Mino có thể dễ dàng chui tọt cái lỗ đó thoát ly ra ngoài, đứa nhỏ bám đuôi theo sau đúng là ngày hội đối với hai đứa . Chúng vui mừng hớn hở y như cái lỗ “chó chui” đó là công trạng và thành quả đầu tiên to lớn nhất trong cuộc đời của chúng. Thế là mỗi ngày, 2 “đứa trẻ” bò ra khỏi nhà khi người lớn vừa ra khỏi và bò vào lại nhà trước khi người lớn về tới…Chẳng hiểu sao Mino có thể đoán trước thời gian để luôn biết dùng miệng ngậm áo đứa nhỏ, lôi kéo nó trở về “cái cửa hang” và cả 2 đều yên vị, rất ư ngoan ngoãn trong căn nhà lá chờ đón chờ người thân trở về. Đối với chúng chẳng có trò nào vui bằng trò nối đuôi nhau chui qua cái lỗ để đến với“thiên đường” bên ngoài căn nhà lá nhỏ. Ở thiên đường đó, chúng có đủ mọi loại niềm vui, chúng trèo cây, hái hoa, hái ớt trước sân nhà và lần nào cô nhỏ cũng khóc ré lên đỏ mặt đỏ mũi, nước mắt lèm nhèm vì nhai ớt nhưng chẳng bao giờ chừa được thú vui dại dột đó.
Hai đứa trẻ có những người bạn, đó là lũ trẻ con trong xóm cũng bị người lớn “bỏ rơi” vì gia đình nào cũng phải lên nương lên rẫy. Cô bé gái nhỏ luôn được Mino chăm sóc và bảo vệ cẩn thận, chỉ cần cô nhỏ mếu máo khóc do bị bạn chèn ép hay bị cào tay, bức tóc là Mino nhảy xổ ra gầm gừ, nó luôn nhe hàm răng trắng ởn như một lời cảnh báo nó sẵn sàng táp ngay lập tức vào đứa nào dám đụng đến cô nhỏ… Chưa bao giờ Mino quên nhiệm vụ bảo vệ và quên đưa mắt canh chừng cô nhỏ!
Khi cô nhỏ tròn 5 tuổi, gia đình dọn về thành phố. Họ bỏ lại những tháng ngày hoang hoải với ruộng đồng, nương rẫy, bỏ lại những bữa cơm độn ngô độn sắn, lũ vịt, bầy gà chí chóe nhung nhúc trong sân, và họ chỉ mang theo Mino.
Thành phố “cướp” đi nhiều trò chơi tuổi thơ của Mino và cô nhỏ. Chúng chẳng còn được “chui lỗ” trốn ra ngoài, chúng thiếu hẳn những trò vui song hành ngày xưa vì cô nhỏ phải đi học mỗi ngày nhưng, cô bé chẳng bao giờ quên ôm hôn chào tạm biệt Mino mỗi sáng và lại ôm hôn vui mừng xoa đầu Mino mỗi khi cô nhỏ rời trường trở về nhà.
Cuộc đời cứ ngỡ sẽ êm đềm trôi qua, cứ ngỡ niềm vui và sự bình an là mãi mãi cho đến khi Mino trở nên già yếu và chậm chạp, nó ăn ít hơn và rụng lông nhiều hơn, cô nhỏ thì quá bận rộn với bạn bè và sách vở, chẳng còn quan tâm và gần gũi Mino như ngày xưa…
Thủa ấy cộng đồng người Bắc vẫn có thói quen ăn thịt chó trong các ngày lễ hỏi, lễ cưới, đám tang, hội hè…Sự nghèo đói khiến người ta chẳng có thứ gì ăn ngon và rẻ bằng thịt chó. Nhà nhà nuôi chó, nhà nhà giết chó đơn giản như giết một con gà, con vịt.
Cái ngày “ông già” họ hàng với gia đình đó qua nhà đứa nhỏ, Mino linh cảm điều gì mà cứ gầm gừ và rên ư ử. Đứa nhỏ đi học về nghe loáng thoáng mẹ nói với ba rằng Mino già rồi, phải giết ngay thôi, nếu để lâu ăn thịt dai nhắt không ngon.
Đứa nhỏ nghe hẫng hụt sâu một cái tận đáy lòng. Nó hoảng hốt, nó lo sợ và hoang mang…nhưng, nó quá nhỏ để chẳng biết phải làm gì! Cuộc sống đơn giản nơi một gia đình đơn giản chẳng cho nó có chút chiều sâu để nhận biết việc phải làm và nên làm, những gì nên nói và cần nói…Sự sợ hãi lấn chiếm và ngự trị trong lòng nó. Đứa nhỏ sợ hãi khi nghĩ phải chống lại cái điều bình thường và rất đỗi “tự nhiên” là thói quen “ăn thịt chó”của gia đình và cộng đồng xung quanh đứa nhỏ.
Một ngày, hai ngày và cái ngày định mệnh đã đến. 7h sáng Chủ nhật đứa nhỏ nghe tiếng Mino kêu la thảm thiết, nó bật chạy ra khỏi giường, chạy xuống bếp thì đã thấy Mino bị tròng đầu bởi sợi dây xích to tướng. Người cầm dây xích là “ông già” hàng xóm.
Lúc ấy chị gái của đứng nhỏ cũng đứng lặng nơi góc bếp, tay vẫn đang run rẩy cầm cái bàn chải đã bôi quệt một dải kem đánh răng. Đứa nhỏ thấy chị mình khóc, khóc nhưng vẫn im lặng, sự im lặng đau đớn và cam chịu. Có điều gì cuộn trào trong lòng đứa nhỏ, dâng lên, dâng lên rồi lại chìm xuống bởi sự sợ hãi, có điều gì đó nó cũng không thể hình dung được.
Nó muốn gào thét, nó muốn lao ra ôm Mino vào lòng, nó muốn cản cái ông già đang chuẩn bị “xử tử” Mino, nhưng không hiểu sao nó chẳng làm gì cả, nó giống như chị nó, chỉ đứng lặng lẽ khóc và khóc. Nước mắt chan hòa trên đôi mắt mở to vì sợ hãi của đứa nhỏ. Cái sợ đã lẫn át tất cả, cái sợ khiến cho nó run rẩy không thể mở to miệng và thét lên cứu lấy người bạn thơ ấu của nó. Nó cứ đứng như trời trồng, một cảm giác chết điếng từ trong trái tim ra bên ngoài thể xác.
Nó nhìn Mino, Mino nhìn nó, ánh mắt con chó già như van xin, như cầu khẩn, ánh mắt đó trong khoảnh khắc kéo nó quay về một trời tuổi thơ nơi căn nhà lá nhỏ và cái lỗ “chó chui” bươi hươi toàn đất là đất!
Con chó già vùng vẫy kịch liệt, bản năng cho nó biết nó sắp chết, nó rống lên từng hồi, nó dùng hết sức để có thể thoát khỏi sợi dây xích đang thắt chặt nơi cuống họng nhưng nó bất lực, nó không hiểu được tại sao cả đời nó cống hiến và sống bằng tất cả tình yêu thương đối với con người để rồi con người cho nó một cái kết cục cuối đời như vậy. Nó van xin cô chủ nhỏ bằng ánh mắt, nước mắt nó tuôn rơi không khác chi cô nhỏ, nó chờ đợi sự “phản kháng của cô bé” nhưng hoàn toàn là im lặng, hoàn toàn là bế tắc và nó hiểu, nó không tru nữa, thôi vùng vẫy, nó chỉ còn có thể mở to mắt nhìn cô chủ nhỏ, nó thấy nước mắt của cô nhỏ, nó thấy vị mặn chát của “kiếp chó”, chắc trong khoảnh khắc đó nó hiểu được cái giá của loài người khác xa cái giá của loài vật.
Nó hiểu được sự hy sinh không có nghĩa là sẽ được đền đáp, nó hiểu sự trung thành không có nghĩa là được cứu mạng. Nó chỉ còn cơ hội chào tạm biệt người bạn tri kỷ bằng ánh mắt, bằng nước mắt của loài chó. Rất tiếc nước mắt của loài động vật cấp thấp không đủ sức làm lay chuyển “loại động vật” cấp cao và cả một trời thơ ấu của nó với cô bạn không đủ là sức mạnh để người tri kỷ của nó lăn xả vào cứu nó.
Ông già bắt đầu vung cái “chày” to nhất mà ông kiếm được, ông bổ từng nhát mạnh vào đầu con chó, tiếng “bốp, bốp” vang lên, tiếng vỡ tan của xương sọ, tiếng “bốp” làm tung tóe cái không khí im lặng và đau đớn, tiếng “bốp” làm nổ tung và đâm thẳng hàng ngàn mũi kim vào lòng con bé.
Nó đau đớn như bị trúng đạn, những phát súng đã nhắm trúng tim, trúng vào óc và làm vỡ nát tất cả sự bình yên, bầy huầy trong lòng nó là những ký ức đã bị vỡ tan hoang đang pha trộn bởi sự ám ảnh. Tất cả nỗi đau đớn, nỗi oán hận như dồn lại vào giây phút cuối khi nó nhìn vào mắt “người bạn thân thiết nhất” của nó. Nó ước nó được thét gào, nó ước thời gian có thể quay ngược trở lại. Nó cầu xin ông trời bắt nó tỉnh dậy để biết rằng nó vừa trải qua một cơn ác mộng.
Nỗi đau lan tỏa trong tâm khảm của một đứa trẻ, nó chỉ mới mười tuổi, lần đầu tiên nó cảm nhận được cái buốt và cái nghẹn đắng của kiếp làm chó. Nó bắt đầu biết căm thù, sự căm thù đầu tiên là căm hận chính bản thân mình. Nó đã hèn yếu, nó hèn hạ đến mức không thể giơ tay, không thể mở miệng để bảo vệ người bạn của nó. Và nó căm thù người lớn, căm thù sự vô cảm của những con người đã không thấu cảm được sự mất mát đau đớn của một đứa trẻ. Nỗi đau đó theo mãi con bé, làm vỡ tung quãng trời tuổi thơ và ám ảm cả quãng đời còn lại của nó!
Con chó già nằm đó, mắt nó vẫn mở trừng trừng nhìn cô chủ nhỏ, từng dòng máu đỏ chảy loang ướt cái sàn bếp, loang tới tận những giấc mơ thảng thốt của cô nhỏ từng đêm và có lẽ là mãi mãi!


Ở Mỹ, đi xin việc làm, nếu vào thấy có ứng viên tốt nghiệp trường West Point cùng tham gia thì thôi coi như mình cầm chắc 1 suất rớt. Đi về cho nhanh, khỏi phỏng vấn nữa. Rất đông các sếp lớn của các tập đoàn ở Mỹ tốt nghiệp trường West Point, tỷ lệ giám đốc điều hành (CEO) trên sinh viên tốt nghiệp cao hơn Harvard, Stanford, hay Yale ( lưu ý từ tỷ lệ). Trong giới CEO quốc tế, nếu nghe ai nói tao từng học ở West Point, người ta cũng nhìn mình từ trên xuống dưới, như 1 thực thể lạ, một con người hoàn hảo. Không xếp hạng được vì nó không có tiêu chuẩn để xếp.

Vậy West Point là trường gì? Đó chính là học viện quân sự Hoa Kỳ. Điều khá lạ là mặc dù là học viện quân sự, nhưng lại là lò đào tạo các quản trị cao cấp cho kinh tế thế giới. Sau 5 năm bắt buộc phải phục vụ trong quân đội, phần lớn các bạn rời bỏ binh nghiệp, học thêm một thạc sĩ quản trị kinh doanh (MBA), đi làm cho các tập đoàn. Rồi thăng tiến rất nhanh, thường trở thành quản lý cấp cao CEO tầm quốc tế mà các công ty săn đầu người hay tìm, để làm sếp ví dụ hãng hàng không quốc gia A, tập đoàn dược phẩm B, tập đoàn hàng tiêu dùng C...

Ở West Point, có một slogan là cứ đưa cho tôi một người không phải tâm thần, tôi đều có thể đào tạo thành 1 công dân ưu tú. Mỗi năm trường WP chỉ tuyển khoảng 1300 bạn, những học sinh ưu tú nhất của hơn 300 triệu dân Mỹ và 7 tỷ người trên trái đất. Và trong 4 năm học, bắt buộc phải loại thải 10%/năm, năm cuối chỉ còn dưới 1000 bạn ra trường. 300
bạn bị loại ấy, mấy trường như Harvard, MIT,Cambridge...giành lấy hết, vì chủ yếu rớt bên WP là môn thể dục chứ trí tuệ là vẫn quá ngon để đào tạo thành sinh viên ưu tú, giúp trường nổi danh.

Chương trình học ở WP rất đa dạng, từ vũ trụ đến cách bắt tay, cách uống rượu vẫn tỉnh táo, cách gấp mùng mền chiếu gối đến tranh luận các tác phẩm của Victor Hugo, trên thông thiên văn, dưới tường địa chất, giữa thấu nhân tâm. Tony quen với anh bạn, tốt nghiệp trường WP và đang làm sếp một công ty đa quốc gia ở Singapore, mỗi lần gặp, ảnh kể về trường WP với một thái độ tự hào, mình nghe mà say mê, chiếc nhẫn biểu tượng của cựu sinh viên WPer trên tay anh lấp lánh.

Ảnh kể, sinh viên WPer vừa vào trường đã phải bị khủng bố tinh thần. Quan niệm là trụng nước sôi 100 độ rồi đem qua trụng nước đá, để sau này, dù có bất cứ sự cố gì trong đời, họ cũng cảm thấy bình thường, chẳng xi nhê. Đầu tiên là họ nhốt từng tốp sinh viên vào trong phòng, sau đó 2 giờ sau thì thả ra, yêu cầu trả lời các câu hỏi như có bao nhiêu bóng đèn trong phòng, bàn ghế màu gì, lúc vào mấy h mấy phút, lúc ra mấy h mấy phút, người ngồi bên trái bạn có đeo đồng hồ không, người bên phải tên gì....Trả lời không được là tự động cuốn gói về nhà. Bài học đầu tiên về ÓC QUAN SÁT, cái quan trọng nhất của một nhà quản trị tài ba. Và n bài học tương tự như vậy. Sau này, ảnh đem các bài học này chế biến lại thành tài liệu dạy sinh viên các đại học khác hay nhân viên thực tập cho tập đoàn, cứ 1 đứa "đoạt giải nhất ngáo ngơ toàn quốc" vào mà chịu học, 6 tháng sau thì lột xác thành 1 người mới hoàn toàn, thành cỡ Steve Job luôn. Tony xin tài liệu của ảnh, đem về VN dịch, áp dụng cho hãng của mình và đang biên tập lại cho câu lạc bộ con dượng. Các bạn bấm Like Tony Buổi Sáng để đọc các tài liệu này đã được Việt hoá theo Tony's style.

Anh nói, rõ ràng dấu ấn đào tạo rất quan trọng với người trẻ. Nếu chịu khó và có phương pháp đào tạo đúng, ngây ngô ngáo ngơ vẫn trở thành xuất sắc, vì chúng ta giỏi lắm chỉ sử dụng có 1/10 khả năng của bộ não. Trở lại hạc viện WP lừng danh bên bờ sông Hudson, cách không xa New York, đây là ước mơ của mọi ông bố khi có đứa con trai ra đời, và muốn nó ” đã mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”. Đào tạo trở thành công dân có ích, giỏi giang, để thoả chí tang bồng hồ thỉ, vùng vẫy giữa đất trời. Khi 18-30 tuổi, trong lúc đám ngây ngô kia đốt tuổi trẻ trong các quán bar, các quán cà phê, vũ trường, rũ rượi xoã tóc đi ra đi vô vì không biết làm gì, suốt ngày chat chit nhăng cuội, ngủ nhiều hơn học và làm nên đầu óc u u mê mê, nông cạn, cái gì cũng làm biếng, cũng lười…thì các bạn WPer đã phải vất vả đầu tư trí lực và thể lực. Thư viện WP mở 24/24, ở đó người ta thấy những cái đầu cắm cúi ghi ghi chép chép, những cuốn sách dày cộm phải đọc xong trong một vài ngày. Đọc nhanh và rất nhanh, để sau này đi làm, giấy tờ công văn, đọc nhoay nhoáy để phúc đáp, chứ thể loại thấy chữ nhiều đọc nhức mắt, thì thôi khỏi tuyển dụng. Nó đánh vần 1 công văn đọc xong mất hết cả ngày, năng suất lao động sẽ kém. Trí thức là phải đọc nhanh để làm việc giỏi, mà muốn đọc nhanh thì phải tập luyện.

Ảnh kể, kỹ năng thuyết trình, thuyết pháp sao cho người khác nghe mà rụng rời tay chân nằm trong chương trình học. Những bức tường ở WP luôn đông nghẹt học viên đứng nhìn vào đó, tập nói với bức tường, rùi tự thu âm nghe đi nghe lại, nói đi nói lại sao cho hay mới thôi. Nên sau này, mình gặp một CEO từng là WPer nói chuyện, ai cũng có cảm giác mình đã quen họ từ lâu lắm, nghe giọng nói ấm áp và trầm bổng ấy, mình chỉ muốn đi theo để được bảo ban, dạy dỗ, trưởng thành.

WPer được đào tạo kỹ về thể lực trong suốt 4 năm học. Dưới trời tuyết lạnh khủng khiếp, họ phải lăn lê bò trườn để tập thể lực. 5h sáng là kẻng đánh thức dậy, tập thể lực bằng các bài tập với cường độ nặng của vận động viên nhà nghề. Tập bơi, đứng nước mấy tiếng đồng hồ, ai đuối quá thì vớt lên, coi như rớt. Rồi tập vượt mọi địa hình. Rèn luyện thể lực sao cho mọi điều kiện thời tiết đều phải thích nghi, nóng 45 độ ở châu Phi hay âm 20 độ ở Alaska đều chịu được.

Kỹ năng tồn tại cho một Wper được chú ý đào tạo kỹ. Những lần trong đêm tối, họ bị thả giữa rừng, và tìm cách về lại trường bằng mọi khả năng có thể, nhìn các vì sao trên trời đoán hướng, tìm thức ăn, con gì ăn được, cây gì ăn được.... Và có khi đang ngủ say giấc, 2 h sáng bị đánh thức dậy để kiểm tra kiến thức, với các câu hỏi như 10 vị tướng giỏi nhất mọi thời đại là ai, tướng Trần Hưng Đạo viết Binh Thư Yếu Lược với nội dung chính là gì, nếu bạn là Napoleon, bạn sẽ viết lại lịch sử của Waterloo như thế nào v.v....Không trả lời được, phải đứng ngoài hành lang cả đêm để suy nghĩ, lên thư viện tự tìm tài liệu ngồi nghiên cứu, coi như nợ câu trả lời. Họ thiết kế một chương trình đào tạo để mỗi WPer có được dáng vóc của một người mẫu, sức khoẻ của một vận động viên Olympic, trí tuệ của một học giả, ăn nói như một thuyết gia, cư xử như một chuyên gia tâm lý.

Khi về già, họ thành lập các hội cựu sinh viên WPer alumni, đi câu cá bên bờ biển Ca-ri-bê, đi ngắm hoàng hôn ở Bali, thong dong tự tại, phong lưu tuyệt đỉnh, vì ai cũng có một tuổi trẻ học và làm như điên. Còn có những người đàn ông trên đời, về già rồi, mà vẫn cứ vật lộn mưu sinh, xin tiền vợ, xin tiền con cái, thì cũng có thể họ kém may mắn, nhưng cũng có thể họ đã lãng phí tuổi trẻ một cách vô bổ trong các trò trai gái, ăn chơi đàn đúm, xài tiền của cha mẹ, hay đơn giản là lười nhớt thây. Làm biếng thì sau này phải khổ, thế thôi. Trách ai.

Nếu bạn nhìn các học viên WP đánh đàn, nhảy, khiêu vũ, võ thuật, hát, ảo thuật, thám hiểm, vẽ…hay thậm chí tỉ mỉ ngồi cắt tỉa giấy để rèn luyện đôi tay khéo léo, bạn sẽ thấy mình sẽ phải cố gắng nhiều, thật nhiều nữa, bạn vẫn còn lười quá. Một ngày chỉ có 24h, là công bằng cho tất cả mọi người. Chúng ta phải ngủ 6-8 tiếng, tức 1/3 cuộc đời là cho việc ngủ, nên ai cũng chỉ còn 16h trong ngày. Nên phải chia ra, làm gì, học gì trong quỹ thời gian ít ỏi đó. Một WPer nếu sáng sớm không nộp được bảng mô tả công việc trong ngày ( daily to-do list) cho bạn trưởng nhóm, thì coi như nắm chắc suất cuốn gói về quê. Không có chuyện ngủ dậy và ngày đó không biết mình phải làm gì.

Sinh viên người Việt ở West Point khá đông, nhưng đều là Việt kiều, nữ nhiều hơn nam. Du hạc sinh quốc tế ở WP một năm chỉ vài ba chục bạn, vì đầu vào khó quá. Cambodia có một vị tướng trẻ ba mươi mấy tuổi cũng tốt nghiệp trường này. Bạn mà nhìn thấy cậu này, không mê thì thôi. Đẹp ngời ngời từ ngoại quan đến nhân cách, mạnh mẽ nam tính và thông tuệ, quý phái từ cốt cách đến tinh thần, một nụ cười cũng chứa sự bao dung như trời đất, thật là không có gì có thể so sánh nổi. Sự cố tranh chấp đền Preah vihear với Thái Lan, hai bên quyết không bên nào chịu nhường bên nào, thậm chí đã vang lên tiếng súng. Trước tình hình cấp bách đó, anh nhận nhiệm vụ của tổ quốc và lên đường đi đàm phán với người Thái. Và chỉ với ánh mắt ấm áp và vài câu nói sắc sảo theo phong cách West Point, bên Thái Lan phải xin lỗi và rút quân, nhường lại ngôi đền này cho quê hương Cambodia của anh. Và thái bình đã trở về trên quê hương Chùa Tháp...

( còn tuýp)


Tony Buổi Sáng

Để làm sếp, kỹ năng tốt và chuyên môn giỏi vẫn chưa đủ



Theo Tiến sĩ Judith Sherven, kỹ năng tốt và chuyên môn giỏi vẫn chưa đủ, lãnh đạo còn cần một số chiến lược tâm lý mới có thể điều hành hiệu quả.

Bà Sherven lý giải trong một bài đăng trên trang LinkedIn cá nhân, "Đã có rất nhiều cuốn sách, khóa giảng dạy và đào tạo trực tuyến được mở ra nhằm mục tiêu nâng cao kỹ năng quản lý cho lãnh đạo. Tuy nhiên hiếm khi người ta nhắc những chiến thuật tâm lý sâu sắc của các nhà quản lý khôn khéo và tài tình. Thật dễ hiểu, vì các tài liệu đó không được viết nên bởi những người có kiến thức nền tảng về tâm lý học".

Bà Judith Sherven cho rằng sự hiểu biết kết hợp với những "đòn tâm lý" dưới đây có thể thúc đẩy các nhà quản lý TÔT trở nên VĨ ĐẠI:

1. Mọi người đều biết tuân theo mệnh lệnh

Tất cả mọi người đều từng là một đứa trẻ, sống phụ thuộc vào cha mẹ hay người chăm sóc họ. Bởi vậy, hành vi làm theo vốn đã được hình thành trong cá nhân mỗi người ngay từ nhỏ.

Mặc dù vẫn có một số cá nhân (thừa hưởng tính cách "nổi loạn" từ thời "trẻ trâu") sẽ tìm cách chống lại người quản lý họ, nhưng đại đa số mọi người đều hoan nghênh và sẵn sàng nghe theo mệnh lệnh từ lãnh đạo của mình.

2. Cấp dưới muốn bạn thể hiện mình là vị lãnh đạo mạnh mẽ

Khi nhà quản lý có thể hoạch định một cách rõ ràng những đường lối và kỳ vọng, cũng như đưa ra chế độ thưởng phạt phân minh, nhằm đạt được kết quả cuối cùng, anh/cô ấy sẽ xây nên một nền tảng tin tưởng vững chắc cho tất cả mọi người trong nhóm.

Còn nếu chính kiến của nhà quản lý lập lờ và thiếu kiên định, tương lai của nhóm sẽ bị đặt dấu hỏi, và tiếng nói của lãnh đạo trong các quyết định hiện tại cũng mất dần trọng lượng.

3. Cả nhóm muốn bạn chỉ đạo chứ không phải là bỏ mặc họ tự quyết

Việc tập trung và phối hợp các nguồn lực trong một tập thể luôn là những vấn đề vô cùng quan trọng. Nhưng các nhà quản lý lại rất hay tránh né vai trò đầu tàu khi phải "tư vấn" và hỗ trợ các thành viên xử lý các rắc rối về tuyển dụng, tái cơ cấu nhóm hay những rủi ro khác. Đó không phải là việc riêng của các nhân viên dưới quyền bạn.

4. Hãy quên chuyện bắt thân với ai đó đi

Một số nhà quản lý, không mấy thoải mái với chiếc ghế lãnh đạo cao chót vót và đơn độc của mình, đã tin rằng việc trở thành bằng hữu hay thân thiết với nhân viên thì sẽ trao quyền để họ báo cáo mọi chuyện đến mình.

Thực tế là, chẳng có gì đi xa hơn được sự thật. Chính sự nhầm lẫn về vai trò của các thành viên sẽ gây ra những nhầm lẫn trong công việc, dẫn đến sai lầm của cả tổ chức.

5. Cố vớt vát một nhân viên yếu sẽ gây tổn hại cho cả nhóm

Các nhà quản lý thường cố gắng "đỡ đạn" cho một thành viên trong nhóm, khi hành vi và hiệu suất của nhân viên đó yếu kém, thiếu chuẩn xác hoặc gây tổn hại đến hiệu quả của toàn nhóm.

Họ có thể là người đã tuyển cá nhân đó và kỳ vọng quá nhiều vào sự nghiệp của người này. Để rồi sau đó phải chấp nhận kết cục đáng buồn là để nhân viên đó rời đi.

Tuy nhiên, quyết định sa thải phải trở thành một việc-làm-bắt-buộc để bảo vệ quyền lợi các thành viên khác trong nhóm, cũng như kết quả làm việc của cả nhóm.

6. Tầm nhìn quá lớn không tạo nên đường lối khôn ngoan

Nhóm của bạn luôn cần đường lối khôn ngoan và hoạch định chu đáo để thực hiện các dự án có tầm nhìn lớn. Nhưng nếu bạn chỉ biết quăng nguyên một kịch bản viển vông ra để mọi người đoán xem phải làm cái gì, cả đội sẽ nhanh chóng bị mất tinh thần và nản chí.

Nên nhớ, mọi người đều chỉ biết làm theo. Hãy đưa cho họ những hướng dẫn rõ ràng và phân công cụ thể, tất cả nhân viên sẽ lao hùng hục vào làm việc để tạo ra sản phẩm mà bạn muốn nhìn thấy.

Đương nhiên, những bậc lãnh đạo xuất sắc sẽ còn có những "đòn tâm lý" khác nữa. Nhưng 6 chiến thuật tâm lý trên đây sẽ giúp các nhà quản lý như bạn bắt đầu suy nghĩ về những gì mình mong đợi nhất từ các nhân viên của mình - những người luôn muốn làm hài lòng và gây ấn tượng với bạn.

Kiến Anh



Giờ học văn bắt đầu. Hôm nay thầy giảng bài Chuyện Cô bé Lọ Lem.

Trước tiên thầy gọi một học sinh lên kể chuyện Cô bé Lọ lem. Em học sinh kể xong, thầy cảm ơn rồi bắt đầu hỏi.

Thầy: Các em thích và không thích nhân vật nào trong câu chuyện vừa rồi?

Học sinh (HS): Em thích Cô bé Lọ Lem Cinderella ạ, và cả Hoàng tử nữa nhưng không thích bà mẹ kế và chị con riêng bà ấy. Cinderella tốt bụng, đáng yêu, lại xinh đẹp. Bà mẹ kế và cô chị kia đối xử tồi với Cinderella.

Thầy: Nếu vào đúng 12 giờ đêm mà Cinderella chưa kịp nhảy lên cỗ xe quả bí thì sẽ xảy ra chuyện gì?

HS: Thì Cinderella sẽ trở lại có hình dạng lọ lem bẩn thỉu như ban đầu, lại mặc bộ quần áo cũ rách rưới tồi tàn. Eo ôi, trông kinh lắm.

Thầy: Bởi vậy, các em nhất thiết phải là những người đúng giờ, nếu không thì sẽ tự gây rắc rối cho mình. Ngoài ra, các em tự nhìn lại mình mà xem, em nào cũng mặc quần áo đẹp cả. Hãy nhớ rằng chớ bao giờ ăn mặc luộm thuộm mà xuất hiện trước mặt người khác. Các em gái nghe đây: các em lại càng phải chú ý chuyện này hơn. Sau này khi lớn lên, mỗi lần hẹn gặp bạn trai mà em lại mặc luộm thuộm thì người ta có thể ngất lịm đấy (Thầy làm bộ ngất lịm, cả lớp cười ồ). Bây giờ thầy hỏi một câu khác. Nếu em là bà mẹ kế kia thì em có tìm cách ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử hay không? Các em phải trả lời hoàn toàn thật lòng đấy.

HS: (im lặng, lát sau có em giơ tay xin nói) Nếu là bà mẹ kế ấy, em cũng sẽ ngăn cản Cinderella đi dự vũ hội.

Thầy: Vì sao thế?

HS: Vì... vì em yêu con gái mình hơn, em muốn con mình trở thành hoàng hậu.

Thầy: Đúng. Vì thế chúng ta thường cho rằng các bà mẹ kế dường như đều chẳng phải là người tốt. Thật ra họ chỉ không tốt với người khác thôi, chứ lại rất tốt với con mình. Các em hiểu chưa? Họ không phải là người xấu đâu, chỉ có điều họ chưa thể yêu con người khác như con mình mà thôi.

Bây giờ thầy hỏi một câu khác: Bà mẹ kế không cho Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử, thậm chí khóa cửa nhốt cô bé trong nhà. Thế tại sao Cinderella vẫn có thể đi được và lại trở thành cô gái xinh đẹp nhất trong vũ hội?

HS: Vì có cô tiên giúp ạ. Cô cho Cinderella mặc quần áo đẹp, lại còn biến quả bí thành cỗ xe ngựa, biến chó và chuột thành người hầu của Cinderella.

Thầy: Đúng, các em nói rất đúng. Các em thử nghĩ xem, nếu không có cô tiên đến giúp thì Cinderella không thể đi dự vũ hội được, phải không?

HS: Đúng ạ.

Thầy: Nếu chó và chuột không giúp thì cuối cùng Cinderella có thể về nhà được không?

HS: Không ạ.

Thầy: Chỉ có cô tiên giúp thôi thì chưa đủ. Cho nên các em cần chú ý: Dù ở bất cứ hoàn cảnh nào, chúng ta đều cần có sự giúp đỡ của bạn bè. Bạn của ta không nhất định là tiên là bụt, nhưng ta vẫn cần đến họ. Thầy mong các em có càng nhiều bạn càng tốt. Bây giờ, đề nghị các em thử nghĩ xem, nếu vì mẹ kế không muốn cho mình đi dự vũ hội mà Cinderella bỏ qua cơ hội ấy thì cô bé có thể trở thành vợ của hoàng tử được không?

HS: Không ạ! Nếu bỏ qua cơ hội ấy thì Cinderella sẽ không gặp hoàng tử, không được hoàng tử biết và yêu.

Thầy: Đúng quá rồi! Nếu Cinderella không muốn đi dự vũ hội thì cho dù bà mẹ kế không ngăn cản đi nữa, thậm chí bà ấy còn ủng hộ Cinderella đi nữa, rốt cuộc cô bé cũng chẳng được lợi gì cả. Thế ai đã quyết định Cinderella đi dự vũ hội của hoàng tử?

HS: Chính là Cinderella ạ.

Thầy: Cho nên các em ạ, dù Cinderella không còn mẹ đẻ để được yêu thương, dù bà mẹ kế không yêu cô bé, những điều ấy cũng chẳng thể làm cho Cinderella biết tự thương yêu chính mình. Chính vì biết tự yêu lấy mình nên cô bé mới có thể tự đi tìm cái mình muốn giành được. Giả thử có em nào cảm thấy mình chẳng được ai yêu thương cả, hoặc lại có bà mẹ kế không yêu con chồng như trường hợp của Cinderella, thì các em sẽ làm thế nào?

HS: Phải biết yêu chính mình ạ.

Thầy: Đúng lắm! Chẳng ai có thể ngăn cản các em yêu chính bản thân mình. Nếu cảm thấy người khác không yêu mình thì em càng phải tự yêu mình gấp bội. Nếu người khác không tạo cơ hội cho em thì em cần tự tạo ra thật nhiều cơ hội. Nếu biết thực sự yêu bản thân thì các em sẽ tự tìm được cho mình mọi thứ em muốn có. Ngoài Cinderella ra, chẳng ai có thể ngăn trở cô bé đi dự vũ hội của hoàng tử, chẳng ai có thể ngăn cản cô bé trở thành hoàng hậu, đúng không?

HS: Đúng ạ, đúng ạ!

Thầy: Bây giờ đến vấn đề cuối cùng. Câu chuyện này có chỗ nào chưa hợp lý không?

HS: (im lặng một lát) Sau 12 giờ đêm, mọi thứ đều trở lại nguyên dạng như cũ, thế nhưng đôi giày thủy tinh của Cinderella lại không trở về chỗ cũ.

Thầy: Trời ơi! Các em thật giỏi quá! Các em thấy chưa, ngay cả nhà văn vĩ đại (nhà văn Pháp Charles Perrault, tác giả truyện Cô Bé Lọ Lem - chú thích của người dịch) mà cũng có lúc sai sót đấy chứ. Cho nên sai chẳng có gì đáng sợ cả. Thầy có thể cam đoan là nếu sau này có ai trong số các em muốn trở thành nhà văn thì nhất định em đó sẽ có tác phẩm hay hơn tác giả của câu chuyện Cô bé Lọ lem! Các em có tin như thế không?

Tất cả học sinh hồ hởi vỗ tay reo hò.

Thời Hàn Băng (nhà báo Trung Quốc)

Cẩm Nhung
Susan là bạn của gia đình tôi ở Mỹ. Có một thời gian quá bận rộn, Susan nhờ tôi chở con trai bà, David, tới lớp tennis. Những lần tiếp xúc ngắn chỉ 20 phút lái xe chở David tới trung tâm tennis, tôi rất ngạc nhiên vì cậu bé 10 tuổi này ăn nói chững chạc, chào hỏi, cảm ơn, hỏi tôi nhiều chuyện và có những quan điểm riêng mà cậu ấy không ngại ngần bộc lộ, khi chia sẻ về các môn học hay về các nước cậu ấy đã đi qua.

Một lần tôi tới chơi nhà Susan, đang ngồi nói chuyện thì Susan có điện thoại. “David để quên cuốn vở bài tập ở nhà. Nó nhờ tôi mang tới trường cho nó”. Rồi Susan hỏi tôi có muốn cùng bà đi bộ tới trường của David không. “Trường cách đây bao xa?”, tôi hỏi. “Đi bộ mất khoảng 20 phút”.

Trên đường đi, tôi hỏi Susan: “Tôi chắc chắn rằng David là một đứa bé rất tự tin và tự lập. Nhưng bà có nghĩ rằng giúp đỡ nó như thế này thì có chiều nó quá không?”. Susan trả lời: “David là một đứa trẻ ngoan. Hôm nay nó quên cuốn vở, tôi cũng đang rỗi rãi thì tôi sẽ mang tới cho nó”. “Nhưng bà có nghĩ rằng làm như vậy nó sẽ ỷ lại không?” “Không, chúng ta ai chẳng có lần quên cái này cái kia. Tôi dám chắc rằng David chẳng muốn bị quên vở tí nào”.

“Nhưng nếu nó không chỉ quên lần này, mà còn quên thêm hai, ba lần nữa thì sao? Liệu bà còn mang vở đến cho nó không?” “Nếu lúc đó tôi rỗi, thì tôi vẫn có thể mang tới cho nó”. “Tôi không hiểu. Sao bà không dạy David một bài học, nói rằng: “Đây là lần thứ ba con quên vở rồi. Mẹ không thể lần nào cũng mang đến cho con. Con chịu khó bị điểm kém một lần đi, để mà con nhớ”. Susan cười cười, lắc đầu: “Không. Trong gia đình tôi, chúng tôi không làm như vậy. David cần sự giúp đỡ. Nếu lúc đó tôi không bận việc gì thì tôi có thể cũng như lần này đi bộ đến đưa cho nó. Đó là giá trị của gia đình phải không nào?”.

“Tôi thật sự không hiểu nổi, điều đó trái với tất cả những gì tôi biết về dạy con tự lập!”.

Susan giờ mới hiểu ra tại sao tôi cứ hỏi kỹ chuyện mang vở cho David như vậy. Xốc lại chiếc áo khoác, Susan gạt tóc đang bay lòa xòa trước mặt: “Tôi nói đó là “khi tôi rỗi”. Còn nếu tôi cũng đang bận việc của mình, tôi mệt, hoặc trời quá nhiều tuyết, thì tôi sẽ đành phải nói với David rằng: “Mẹ xin lỗi, nhưng hôm nay mẹ cũng đang rất bận việc, không thể tới chỗ con được. Con nói lời xin lỗi cô giáo nhé và xem có thể làm gì để bù đắp không”. Vừa lúc chúng tôi tới trường của David, David chạy xuống các bậc cầu thang, lao ra phía cổng trường. “Cảm ơn mẹ rất nhiều. Con yêu mẹ nhiều” rồi cậu chạy lại vào trong lớp.

Lúc quay đầu về nhà, Susan bảo thêm tôi: “Nếu David quả là có sự lơ đễnh “bác học” và liên tục quên, thì tôi sẽ cùng con ngồi lại xem nguyên nhân vì sao. Có phải vì David cứ đi ngủ trước để đến sáng ra mới cuống cuồng cho sách vở vào cặp không? Hay vì các cuốn vở màu sắc quá giống nhau nên David mang nhầm? Thế thì phải ra Office Depot mua nhãn vở nhiều màu sắc về dán rồi”.

Lúc đó, tôi chợt nhận ra, bà mẹ Mỹ này “cứng tay” hơn tôi tưởng rất nhiều.

Tôi dám chắc rằng bà luôn để con tự lập, tự thân vận động, chính vì thế mà David rất nhanh nhẹn và hoạt bát. Nhưng bà cũng không vì “để con tự lập” mà dằn giọng: “Con phải chịu hậu quả để mà nhớ lấy bài học này”. Nếu bà có thể giúp, bà sẽ giúp. Nếu bà không thể giúp thì bà cũng đành buồn lòng mà nói với David như vậy. Bà không nỗ lực quá đà, bỏ bê công việc của mình hay “hy sinh” lao ra ngoài trời tuyết, nhưng David vẫn biết rằng mẹ quan tâm đến cậu, chỉ có điều trong hoàn cảnh như vậy, mẹ không thể giúp. Cậu bé David có thể hôm đó sẽ phải xin lỗi cô giáo hay bị điểm kém, bên cạnh việc học được bài học về hậu quả của sự đãng trí, cậu cũng vẫn ấm lòng rằng cậu luôn có mẹ, có gia đình ở bên. Cậu bé David luôn được mẹ nhắc đến với bản chất tốt, “ngoan”, “nó cũng không muốn bị quên vở như thế”. Và khi Susan để ý con có thể bị tính “đãng trí” ảnh hưởng quá nhiều, bà sẽ cùng con ngồi thảo luận và tìm ra giải pháp để con không quên nữa.

Cách dạy con của Susan rất khác với sự dạy con tự lập một cách cứng nhắc như là “để nó chịu hậu quả thì nó mới học được”. Nó rất khác với việc “nghĩ hộ con” - hằng ngày đốc thúc, nhắc nhở để con khỏi quên. Nó cũng rất khác với việc hy sinh thân mình để giúp con trong im lặng. Nó cũng rất khác với việc hậm hực giúp con sau một hồi mắng con “cẩu thả”, “ích kỷ”, “dựa dẫm”...

Những gì tôi học được từ Susan thực sự rất ý nghĩa. Nó giải phóng những ông bố bà mẹ như tôi khỏi nỗi sợ “làm hư con”, “nuông chiều con”. Nó nhắc nhở về sự gần gũi, thân mật, hỗ trợ trong gia đình. Hóa ra cách dạy con của người Mỹ có rất nhiều điểm tương đồng với bản tính yêu thương con tự nhiên của người Việt Nam. Dạy con tự lập không có nghĩa là gạt đi tình yêu với con. Mà thực ra họ để con tự lập và vừa yêu thương con, chỉ dẫn con đúng cách. Để làm được như vậy, chính bố mẹ cũng phải hoàn thiện mình, là con người hiểu biết, có đạo đức để có thể hướng dẫn con đúng đắn.

Ở Việt Nam, những người sinh ra ở lứa tuổi 7x, 8x đã quá ngán sự bao bọc của bố mẹ nên khi sinh ra những đứa con đầu tiên, cùng lúc những tư tưởng dạy con tự lập của phương Tây tràn vào, những ông bố bà mẹ trẻ nhanh chóng học hỏi, nhưng do hạn chế thông tin và thực tế nên nhiều người hình thành tư tưởng cực đoan khi dạy con tự lập. Mỗi lần định dạy gì con là rất “rón rén” vì sợ làm con phụ thuộc. Sau một vài lần nhắc nhở là họ phó mặc vào “hậu quả”, hy vọng “hậu quả” sẽ dạy con và làm con thay đổi. Trong khi đó, cái cần làm không đơn thuần là hậu quả, mà là dạy con cách làm, cùng thảo luận với con cách nghĩ, cùng tìm giải pháp... Khi con hay có lựa chọn ăn uống không tốt cho sức khỏe như chỉ thích uống nước ngọt, ăn đồ béo ngậy, thì mẹ không chỉ nói với con “ăn thế thì béo đấy” hay ép con “phải ăn nhiều rau vào” mà có thể cùng con nấu những món ngon bổ dưỡng, cùng học về dinh dưỡng. Khi con lúng túng với khoản tiền đầu tiên và đầu tuần tiêu hết quá nhanh đến cuối tuần không còn lại gì, thay vì chỉ để con tự hiểu được cảm giác bất lực vì không biết quản lý chi tiêu, bố mẹ có thể dẫn cho con xem cuốn sổ ghi chép chi tiêu hằng ngày của gia đình, để con học được cách quản lý tài chính.

Chính cách dạy tưởng chừng như “không để con tự lập” đó lại dạy con để con không chỉ là một người tự lập, mà là một người tự lập thông thái, đầy bản lĩnh và xúc cảm.

Cẩm Nhung

Tinh thần làm việc tập thể, những bài học đạo đức và hành động luôn đi kèm mục tiêu là những giá trị tối cơ bản của nền giáo dục xứ sở hoa anh đào.

Lucy Crehan là một nhà giáo, nhà nghiên cứu về giáo dục rất tận tâm với những đề tài của mình. Cô đã gặp gỡ nhiều bậc giáo viên, phụ huynh để có thể đưa ra được những góc nhìn mới lạ và chính xác về nền giáo dục của Nhật Bản.

Cộng đồng hóa giáo dục từ bậc tiểu học

Ngay từ bậc tiểu học, hầu hết thời gian học sinh được học tập và làm việc theo nhóm. Ảnh: Factrange.

Điều làm Susan, một giáo viên, cảm thấy bất ngờ ngay ngày đầu tiên đi dạy là cách ứng xử của các học sinh tiểu học. Theo Susan, "học sinh được phép đứng lên, tự do đi lại xung quanh lớp ngay cả khi tiết học đang diễn ra và hầu như có thể làm mọi việc, trừ những việc gây nguy hiểm."

Hành động này được xem là "hư" và hoàn toàn trái với những suy nghĩ cũng như khuôn mẫu trước đây về học sinh Nhật Bản biết nghe lời và có tinh thần học tập cao. Tuy nhiên, những bất ngờ đó đều nằm trong chuỗi chính sách có chủ đích của chính phủ Nhật Bản áp dụng cho học sinh tiểu học.

Thay vì dành những năm tháng đầu tiên của bậc tiểu học rèn giũa học sinh về tầm quan trọng của việc làm theo đúng chỉ dẫn của giáo viên, người Nhật cho rằng đây là quãng thời gian để các em tự nhận ra những gì phù hợp và yêu thích. Bên cạnh đó, việc hướng các em vào hoạt động nhóm cũng luôn được ưu tiên.

Hầu hết hoạt động của học sinh tiểu học đều được tổ chức theo các nhóm nhỏ, vì thế, học tập dường như trở thành hoạt động tự nhiên mang tính xã hội. Nếu một học sinh rời ghế của mình và không tham gia vào các hoạt động, giáo viên sẽ nhẹ nhàng nhắc nhở như: "Đội Vàng vẫn chưa sẵn sàng!". Điều này sẽ khiến các học sinh khác trong đội quan tâm và yêu cầu người bạn trở nên tích cực hơn vì lợi ích của nhóm.

Cách giáo dục này khiến trẻ em ý thức rằng chúng là thành phần cần thiết của nhóm và tự hào khi đạt được thành tựu dưới tư cách nhóm. Những cảm xúc và niềm tin này rất quan trọng trong xã hội Nhật Bản, nó sẽ theo mỗi cá nhân suốt cuộc đời.

Giáo dục đạo đức

Cạnh các tiết học về chuyên môn, những giá trị nhân văn cũng được giáo viên Nhật Bản chú trọng giảng dạy thông qua các tiết học đạo đức. Các tiết học này thường được tổ chức một lần một tuần và trong suốt quãng đời học sinh với tiêu chí chung là: "Phát triển một tầng lớp cư dân Nhật Bản, những người sẽ không bao giờ mất đi tinh thần nhất quán tôn trọng mọi người xung quanh, luôn mang theo tư tưởng đó ở nhà, tại trường học hay bất cứ hoàn cảnh nào trong xã hội mà anh ta là thành viên; phấn đấu cho sự sáng tạo của một nền văn hóa giàu cá tính và cho sự phát triển của một quốc gia dân chủ; tự nguyện cống hiến cho một xã hội hòa bình".

Những bài học như thế này chủ yếu phụ thuộc vào giáo viên giảng dạy, không có một quy chuẩn cụ thể. Đa phần, học sinh sẽ được nghe kể về một câu chuyện hay một tình huống nào đó. Tiếp theo, các em sẽ thảo luận theo nhóm và cuối cùng là chia sẻ những suy nghĩ, ý kiến mình sẽ làm gì và tại sao, trong từng tình huống trước cả lớp.

Dù cách giảng dạy phụ thuộc vào từng giáo viên nhưng nội dung và mục tiêu của các bài học thì hoàn toàn được quy định bởi bộ Giáo dục.

Những hoạt động hướng mục tiêu

Học sinh Nhật Bản thường ở lại lớp dọn vệ sinh sau giờ học. Ảnh: Inside Classrooms.

Hầu hết các trường ở Nhật đều có những hoạt động thể thao hay lễ hội thường niên với mục tiêu "xây dựng tình đoàn kết, khuyến khích cá nhân nỗ lực hết mình, tận tâm và kiên trì". Ngoài ra, các cuộc dã ngoại cũng thường xuyên được tổ chức nhằm "mở rộng hiểu biết của học sinh về thiên nhiên và thế giới xung quanh theo một cách thú vị mà đáng nhớ, đồng thời rèn luyện học sinh có những hành vi phù hợp nơi công cộng".

Những hoạt động hàng tuần, hàng ngày cũng đều có mục tiêu đi kèm và thường được thảo luận bởi chính học sinh. Thêm vào đó, có hẳn một nét văn hóa trong việc kiểm tra xem mục tiêu có đạt được không sau khi mỗi hoạt động kết thúc. Ví dụ như tất cả học sinh dành 20 phút cuối ngày để dọn vệ sinh trường học cùng nhau. Khi kết thúc hoạt động, các nhóm sẽ tập hợp và đồng thanh hô to khẩu hiệu như: "Chúng ta có hợp tác tốt không?", "Chúng ta có tận dụng tối đa thời gian không?"...

Việc đánh giá giá trị một phương pháp giáo dục là điều không dễ dàng. Tuy nhiên, một điểm mà toàn Thế giới phải công nhận là nền giáo dục của Nhật Bản đã đào tạo ra một thế hệ những con người chăm chỉ, tận tâm với công việc và ý thức kỷ luật rất cao.

Vũ Hoàng (theo Inside Classrooms)


Nguyễn Quốc Toàn
Trả lời chất vấn Quốc hội mới đây, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Phạm Vũ Luận đã nói: “cách dạy, cách học, cách thi ngoại ngữ của Việt Nam không giống ai trên thế giới”, “trò phát âm chuẩn, cô chê” và thế là có hàng loạt trao đổi liên quan đến việc dạy tiếng Anh, đặc biệt là phát âm, được chia sẻ.

Theo tôi chuyện học và dạy tiếng Anh của người Việt “không giống ai” vì chúng ta đang tồn tại một số định kiến rất sai lầm.

Định kiến lớn nhất đó là “cần phải phát âm chuẩn”. Đã bao năm nay, cả nền giáo dục tiếng Anh ở Việt Nam bị ám ảnh mê muội bởi cái chuẩn là chúng ta phải phát âm theo giọng Anh hoặc Mỹ. Chúng ta tự hào khi con mình nói giọng Anh - Mỹ và khoái trá chê con người khác; tán đồng khi con “cười sằng sặc” nói thầy cô phát âm không ”chuẩn”. Ám ảnh phải nói “chuẩn” đã gây ra không biết bao tốn kém.

Bạn đâu cần phải phát âm chuẩn giọng “Anh – Mỹ” thì mới làm được việc. Tại Mỹ hàng năm có hàng trăm nghìn người nhập cư đến từ khắp nơi trên thế giới, những nước mà tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ, như Italy, Hà Lan, Đức, Ấn Độ, Trung Quốc, Hàn Quốc, Việt Nam. Có hàng nghìn giáo sư, bác sĩ, luật gia xuất chúng, những nhà khoa học được giải Nobel, họ đều nói giọng không “chuẩn”. Bạn đã đến Liên Hiệp Quốc, Ngân hàng Thế giới chưa? Bạn đã nghe hàng trăm giọng phát âm tiếng Anh, mỗi người một kiểu chưa? Ấy thế mà những nơi đó tập trung những kinh tế gia, nhà ngoại giao hàng đầu thế giới hàng ngày làm việc với nhau đấy.

Đã bao giờ bạn thấy một người Singapore, Philippine hay Ấn Độ xấu hổ và mặc cảm vì nói tiếng Anh không giống giọng “Anh Mỹ” chưa? Những đất nước đó có hàng triệu, hàng trăm triệu đến hàng tỷ dân nói và sử dụng tiếng Anh thành thạo mà chả ai qua tâm đến giọng của người kia giống Anh/Mỹ hay không? Cả thế giới kính trọng Lý Quang Diệu của Singapore, say mê những kiến giải kinh tế học của Amartya Sen (nhà kinh tế học Ấn Độ được giải Nobel), có ai quan tâm là họ nói tiếng Anh không giống giọng Anh - Mỹ không?

Mỗi đất nước, con người, dân tộc có một phương ngữ, chất giọng khác nhau. Tại sao lại cứ khăng khăng bắt người ta phải nói giọng Anh, giọng Mỹ. Ngay cả ở Mỹ, những người Mỹ da đen cũng có cách phát âm riêng mà không ai phán xét họ cả. Chúng ta chưa bao giờ bắt người Nghệ An, người miền Tây phải nói giọng Bắc thì tại sao lại cứ mong con mình phải nói như những ông Tây? Hãy tìm ở Việt Nam mà xem, có bao nhiêu người thực sự phát âm được giống giọng “Anh Mỹ”? Tôi dám đặt cược là không quá con số nghìn.

Ám ảnh phải nói “chuẩn” gây ra sự tốn kém rất lớn khi học tiếng Anh. Thay vì học với cô thầy giỏi người Việt, chúng ta tốn rất nhiều tiền học với “tây” và làm mọi cách để phát âm cho “chuẩn”. Đành rằng học với “tây” thì phản xạ sẽ tốt hơn, nhưng chi phí sẽ đắt gấp 2-3 lần. Và ám ảnh ấy sẽ mãi là một vòng luẩn quẩn vì chừng nào chúng ta không học bằng tiếng Anh liên tục từ nhỏ, không sống một thời gian dài tại Anh, Mỹ thì phần lớn chúng ta cũng không thể nào phát âm “chuẩn” được.

Tôi từng là một học sinh chuyên Anh tại một trường trung học nổi tiếng Hà Nội, đã học đại học tại Australia, làm tiến sĩ tại Mỹ, tham gia học, dạy và làm việc ở các môi trường nói tiếng Anh, tổng cộng hơn 24 năm sử dụng tiếng Anh. Đến bây giờ tôi vẫn không nói tiếng Anh có giọng Anh Mỹ và tôi cũng chưa bao giờ mặc cảm vì điều đó. Các bậc thầy và đồng nghiệp đáng kính của tôi đến từ Thổ Nhĩ Kỳ, Italy, Ấn Độ, Hàn Quốc, Rumani. Ai cũng nói tiếng Anh lơ lớ, thậm chí còn khó nghe. Nhưng họ đều rất thành công.

Một trong những thầy hướng dẫn luận văn tiến sĩ của tôi là một người Anh gốc Ấn. Bà sinh ra ở Anh, học đại học tại Cambridge và làm tiến sĩ tại Yale, những đại học lừng danh nhất trên thế giới, và làm ở Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Ấy thế mà bà vẫn nói tiếng Anh theo phương ngữ Ấn Độ, theo văn hóa Ấn Độ. Và bà rất tự hào về điều đó.

Mặc cảm nói tiếng Anh không “chuẩn” một phần phản ánh tư duy “nhược tiểu”, luôn coi mình không bằng với Tây Âu, cảm thấy mình thấp kém, lấy việc giống “tây” làm một phần thước đo giá trị. Tôi chắc không có đất nước nào ngoài Việt Nam lại có khái niệm tiếng “bồi”, nghĩa là tiếng Anh (của bồi bàn) không phát âm chuẩn, thiếu văn phạm.

Vậy phát âm “chuẩn Mỹ Anh” có tốt gì không? Xin thưa là không có bất cứ một lợi ích gì hơn so với việc phát âm để nghe được, hiểu được, dùng được cả. Còn cái hại của việc sợ phát âm không “chuẩn” sẽ là vô số: Nó sẽ dẫn đến mặc cảm, tự ti khi học tiếng Anh để rồi mãi không học được; nó sẽ dẫn đến việc tốn kém khi cứ đầu tư suốt vào việc kiếm thầy bản ngữ để học rồi ba bữa lại quên vì mình làm sao mà phát âm đúng giọng được. Nó cũng gieo vào đầu bao thế hệ tư duy “nhược tiểu” tự đánh giá mình kém cỏi bằng một giọng phát âm “chuẩn” hay không “chuẩn”.

Hãy cứ mạnh dạn nói tiếng Anh đi, tiếng “bồi” cũng được, rồi dần dần bạn sẽ thành thạo. Hãy cứ thoải mái giao tiếp bằng tiếng Anh đi dù bạn nói có không hay. Cô cứ mạnh dạn dạy học trò biết tiếng Anh đi, đừng “lăn tăn” mình nói chuẩn hay không chuẩn vì ít nhất các em sẽ được cô dạy một cách tự tin. Cha mẹ cũng hãy mạnh dạn tiết kiệm hàng triệu đồng một tháng thay vì tốn tiền cho con học tiếng Anh với tây đi, dành tiền đó đầu tư cho con học với thầy cô giỏi. Các cán bộ nhân viên cũng đừng mặc cảm là phải học cho đến khi nào nói “chuẩn” thì mới dám dùng.

Hãy tự tin lên, dù cho tiếng Anh chúng ta nói có là Ving-lish (Vietnamese English) đi chăng nữa, vì sẽ có một ngày chúng ta thực sự gia nhập thế giới nói tiếng Anh của một nước phát triển như Singapore nơi người ta nói tiếng Sing-lish (Singaporean English); của cường quốc quân sự, văn hóa như Ấn Độ nơi hơn một tỷ người nói tiếng Ing-lish (Indian English). Hãy cứ làm được như thế đã, trước khi mơ về cái gọi là tiếng “chuẩn”.

Nguyễn Quốc Toàn


Tôi rất vinh dự được có mặt tại lễ phát bằng tốt nghiệp của các bạn ngày hôm nay tại một trường đại học danh giá bậc nhất thế giới. Tôi chưa bao giờ có bằng tốt nghiệp đại học.

Nói một cách trung thực nhất thì thực ra, tôi chưa bao giờ học đại học. Ngày hôm nay, tôi muốn kể cho các bạn nghe ba câu truyện đã từng xẩy ra trong cuộc đời tôi. Chỉ như vậy thôi, không có gì to lớn, chỉ đơn giản là ba câu truyện.

Câu chuyện thứ nhất là về việc kết nối những dấu chấm

(Connecting the dots – nối những dấu chấm từ hàng vạn cái chấm hỗn độn - để thấy con đường mình sẽ phải đi)

Tôi đã bỏ học chỉ sau sáu tháng theo học trường cao đẳng Reed, tôi lưu lại đó tạm thời trong vòng 18 tháng nữa trước khi tôi chính thức rời trường Reed.

Tại sao tôi lại bỏ học?
Tôi đã bắt đầu điều đó khi tôi mới được sinh ra. Mẹ ruột của tôi là một nữ sinh viên trẻ, độc thân và bà đã quyết định cho tôi đi làm con nuôi. Bà thực sự muốn tôi được làm con nuôi của những người đã tốt nghiệp đại học. Vì thế, tất cả mọi chuyện đã được sắp đặt để tôi trở thành con nuôi của một cặp vợ chồng luật sư. Tuy nhiên, tất cả chuyện đó đã bị thay đổi ở phút cuối cùng khi tôi vừa cất tiếng khóc chào đời, họ đã đổi ý và muốn nhận một đứa bé gái làm con nuôi chứ không phải tôi.

Chính vì thế, bố mẹ nuôi của tôi hiện giờ đã nhận được một cú điện thoại vào lúc nửa đêm hỏi có muốn nhận tôi, một đứa bé trai được sinh ra không mong đợi, làm con nuôi hay không. Bố mẹ tôi đã trả lời rằng tất nhiên rồi. Tuy nhiên, sau đó, mẹ ruột của tôi biết được mẹ nuôi tương lai của tôi chưa tốt nghiệp đại học và bố nuôi của tôi chưa tốt nghiệp trung học, bà đã từ chối ký vào giấy tờ giao nhận con nuôi. Một vài tháng sau bà mới đồng ý khi bố mẹ nuôi của tôi hứa sẽ cho tôi đi học đại học.

17 năm sau, tôi cũng vào đại học, nhưng tôi đã rất ngây thơ khi chọn một trường đại học danh giá ngang hàng với Stanford. Tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi đã phải dành để đóng học phí cho tôi. Sau sáu tháng, tôi chẳng thấy được ích lợi gì của việc học đại học. Tôi chẳng có một câu trả lời nào về việc tôi sẽ làm gì với cuộc đời của mình và cũng chẳng tin rằng trường đại học có thể giúp tôi trả lời câu hỏi đó. Tôi đã tiêu tất cả tiền tiết kiệm của bố mẹ tôi dành dụm phòng khi về hưu vào trường đại học. Vì vậy tôi đã quyết định bỏ học và tin tưởng rằng rồi mọi chuyện cũng sẽ tốt đẹp thôi. Tại thời điểm đó, mọi việc dường như có vẻ rất khó khăn nhưng khi nhìn lại, tôi lại thấy rằng đó là một quyết định đúng đắn nhất của tôi. Giây phút mà tôi bỏ học, tôi đã từ bỏ những môn học mà tôi không hề thích, thay vào đó, tôi bắt đầu tìm hiểu những môn học khác có vẻ như thú vị hơn rất nhiều.

Mọi chuyện không diễn ra nhẹ nhàng một chút nào. Tôi không có phòng trọ vì thế, tôi phải ngủ nhờ dưới sàn nhà trong phòng trọ của các bạn tôi. Tôi kiếm tiền mua đồ ăn bằng 5$, tiền công trả lại các chai Coca-cola và mối tuần tôi đi bộ 7 dặm qua phía bên kia thành phố để có được một bữa ăn ngon ở trại Hare Krishna. Tôi rất thích những món ăn ở đó. Sau này, tôi mới biết được rằng những gì mà tôi đã phải trải qua khi cố gắng theo đuổi niềm đam mê của mình là vô giá. Tôi sẽ lấy một ví dụ cho các bạn:

Có lẽ ở thời điểm đó, trường Reed là trường duy nhất của cả nước giới thiệu nghệ thuật viết chữ đẹp. Ở tất các các khu học xá, tất cả các poster, tiêu đề của tất cả các tranh vẽ đều được viết tay rất đẹp. Vì tôi đã thôi học và không phải tham gia vào những khóa học bắt buộc thông thường nên tôi đã quyết định tham gia khóa học nghệ thuật viết chữ đẹp. Tôi học cách viết các chữ có nét ở chân, những biến đổi về khoảng cách giữa các nét chữ, học cách trình bầy một bản in lớn sao cho đẹp. Tôi nhận thấy rằng đây là một môn học mang tính nghệ thuật, lịch sử và đẹp một cách tinh vi mà khoa học không thể làm được.

Những thứ đó dường như chẳng có ý nghĩa thực tế gì cho cuộc sống của tôi. Tuy nhiên, 10 năm sau này, khi chúng tôi đang thiết kế thế hệ đầu tiền của máy tính Machintosh, tất cả những điều đó dường như lại trở lại với tôi và chúng tôi đã thiết kế để cài đặt tất cả những mẫu chữ đó vào máy tính, Machintosh là máy tính đầu tiên có những mẫu chữ nghệ thuật rất đẹp. Nếu như tôi không tham gia vào khóa học đó ở trường thì Mac sẽ chẳng bao giờ có nhiều phông chữ như vậy. Kể từ khi Windows copy những mẫu chữ đó của Mac thì không có một máy tính cá nhân nào không có những phông chữ đó. Nếu tôi không bỏ học và không tham gia vào khóa học viết chữ đẹp thì tất cả các máy tính cá nhân bây giờ có thể chẳng có được chúng. Tất nhiên là khi tôi đang ở trường đại học thì tôi không thể kết nối những điểm mốc đó khi nó còn đang ở tương lai phía trước. Nhưng 10 năm sau thì những điều đó rất, rất rõ ràng.

Một lần nữa tôi muốn nói với các bạn rằng, chúng ta không thể biết những điểm mốc có nối kết với nhau trong tương lai không, các bạn chỉ có thể biết những điều đó khi nhìn lại mà thôi. Vì thế, các bạn hãy tin tưởng rằng, theo một cách nào nó, những điểm mốc sẽ nối kết với nhau trong tương lai của bạn. Các bạn cũng cần phải tin vào một số thứ khác như: sự quyết tâm, vận mệnh, cuộc sống, nhân quả hoặc bất cứ cái gì. Phương pháp đó chưa bao giờ làm tôi thất vọng và nó đã tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của tôi.

Câu chuyện thứ hai của tôi là về tình yêu và sự mất mát.

Tôi đã rất may mắn khi tôi đã muốn bắt đầu làm việc từ rất sớm. Woz và tôi đã bắt đầu những trang đầu tiên cho lịch sử của Apple trong gara của bố mẹ tôi khi tôi mới 20 tuổi. Chúng tôi đã làm việc rất chăm chỉ để sau 10 năm, từ chỗ chỉ có 2 người, trong cái gara bé nhỏ, Apple đã phát triển thành một công ty trị giá 2 tỷ đô la Mỹ với hơn 4000 nhân viên. Một năm trước đây, chúng tôi vừa mới bỏ đi sáng tạo đầu tiên của mình, máy tính Macintosh và tôi vừa mới bước sang tuổi 30. Sau đó, tôi bị sa thải. Làm sao mà bạn lại có thể bị sa thải bởi một công ty mà bạn đã sáng lập ra nó ? Oh, khi mà Apple đã phát triển lớn hơn, tôi đã thuê một người mà tôi đánh giá là có khả năng cùng tôi lãnh đạo công ty.

Khoảng một năm gì đó, tình hình có vẻ rất khả quan. Nhưng sau đó, quan điểm của chúng tôi về tương lai bắt đầu khác nhau, thậm chí chúng tôi còn trở nên bất hòa. Khi có mối bất hòa đó xẩy ra giữa chúng tôi, hội đồng quản trị đã đứng về phía anh ta, và tôi, ở tuổi 30, đã bị sa thải một cách rất rõ ràng. Những điều mà tôi theo đuổi trong suốt cuộc đời đã biến mất, chúng đã bị phá hủy.

Trong một vài tháng, tôi đã thực sự chẳng biết phải làm cái gì. Tôi cảm giác rằng mình đã làm cho những thế hệ đi trước tôi thất vọng và rằng tôi đã đánh rơi lá cờ khi nó đã được chuyền đến tay tôi. Tôi đã gặp David Packard và Bob Noyce, cố gắng xin lỗi cho việc cư xử không hay của mình. Tôi đã thua một cách rõ ràng và thậm chí, tôi đã có ý định bỏ cuộc. Nhưng có một cái gì đó bắt đầu chậm chậm sáng lên trong tôi. Tôi vẫn rất yêu quý những gì tôi đã tạo ra. Sự việc xẩy ra ở Apple có thay đổi tình yêu đó một chút nhưng trong tôi, tình yêu ấy vẫn còn. Chính vì thế, tôi đã quyết định bắt đầu lại.

Ngay lúc đó tôi không nhận thấy, nhưng sau này, tôi mới biết rằng việc tôi bị Apple sa thải hóa ra lại là một việc tốt đẹp nhất trong cuộc đời tôi. Gánh nặng của sự thành công đã được thay thế bằng ánh sáng của sự bắt đầu mới tuy không có điều gì chắc chắn. Tôi đã để cho mình tự do bước vào một quãng đời đầy những sáng tạo của cuộc đời mình.

Trong khoảng 5 năm sau đó, tôi đã bắt đầu xây dựng công ty NeXT và một công ty khác tên là Pixar. Tôi gặp và đã yêu một người phụ nữ tuyệt vời, chính là vợ tôi sau này. Pixar đã sáng tạo ra phim truyện hoạt hình máy tính đầu tiên trên thế giới, câu chuyện đồ chơi. Hiện tại, nó đã trở thành xưởng phim hoạt hình thành công nhất trên thế giới. Một sự kiện thay đổi đáng ghi nhớ đã xẩy ra khi Apple mua NeXT, tôi trở lại Apple, những kỹ thuật mà NeXT đã phát triển trở thành nguồn sinh khí cho thời kỳ phục hồi của Apple.

Tôi và Laurene cũng có một gia đình hạnh phúc.

Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng tất cả những điều đó sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu tôi không bị Apple sa thải. Đó là một viên thuốc đắng nhưng tôi chắc bệnh nhân sẽ rất cần đến nó.

Đôi khi cuộc sống dường như muốn cố tình đánh ngã bạn. Nhưng hãy đừng mất lòng tin. Tôi biết chắc chắn rằng, điều duy nhất đã giúp tôi tiếp tục bước đi chính là tình yêu của tôi dành cho những gì tôi đã làm. Các bạn phải tìm ra được cái các bạn yêu quý. Điều đó luôn đúng cho công việc và cho cả những người thân yêu của bạn. Công việc sẽ chiếm phấn lớn cuộc đời bạn và cách duy nhất để thành công một cách thực sự là hãy làm những việc mà bạn tin rằng đó là những việc tuyệt vời. Và cách để tạo ra những công việc tuyệt vời là bạn hãy yêu việc mình làm. Nếu như các bạn chưa tìm thấy nó, hãy tiếp tục tìm kiếm. Đừng bỏ cuộc bởi vì bằng trái tim bạn, bạn sẽ biết khi bạn tìm thấy nó. Và cũng sẽ giống như bất kỳ một mối quan hệ nào, nó sẽ trở nên tốt dần lên khi năm tháng qua đi. Vì vậy hãy cố gắng tìm kiếm cho đến khi nào bạn tìm ra được tình yêu của mình, đừng từ bỏ.

Câu chuyện thứ ba của tôi là về cái chết.

Khi tôi 17 tuổi, tôi đã đọc được một câu châm ngôn như sau: Nếu bạn sống mỗi ngày đều như ngày cuối cùng của cuộc đời mình, một ngày nào đó bạn sẽ hoàn toàn tin tưởng rằng bạn đã đúng. Câu châm ngôn đó đã để lại ấn tượng rất sâu trong tôi và kể từ đó, trong suốt 33 năm qua, tôi luôn nhìn vào gương mỗi buổi sáng và tự hỏi mình: nếu ngày hôm nay là ngày cuối cùng của cuộc đời tôi, tôi sẽ muốn làm gì và tôi chuẩn bị làm gì hôm nay? Và nếu trong nhiều ngày, câu trả lời vẫn là “không” thì tôi biết, tôi cần phải thay đổi điều gì đó.

Suy nghĩ rằng mình sắp chết chính là điều quan trọng đã động viên tôi tạo ra cơ hội lớn cho cuộc đời mình. Bởi vì tất cả mọi điều từ sự kỳ vọng của mọi người vào bạn, tất cả mọi niềm tự hào cho đến nỗi sợ phải đổi mặt với sự xấu hổ hay thất bại, tất cả sẽ biến mất khi bạn phải đổi mặt với cái chết. Khi đó, chỉ còn lại điều gì thực sự quan trọng.Ý nghĩ rằng chúng ta đang đối mặt với cái chết, khi chúng ta sắp chẳng còn gì nữa, là cách tốt nhất mà tôi biết để tránh khỏi việc chúng ta cảm thấy sợ hãi khi sắp đánh mất đi thứ gì đó.

Chẳng có lý do gì để bạn không lắng nghe sự mách bảo của trái tim mình.

Khoảng một năm trước đây tôi đã bị chẩn đoán là bị ung thư. Tôi đã chụp cắt lớp lúc 7:30 sáng và trên phim hiện rõ ràng một khối u trong tuyến tụy. Thậm chí tôi chẳng biết tuyến tụy là cái gì. Các bác sỹ nói với tôi rằng đây là một dạng của ung thư và bệnh này không chữa được, rằng tôi nên chuẩn bị tinh thần mình sẽ chỉ sống được từ 3 đến 6 tháng nữa thôi. Bác sỹ của tôi khuyên tôi về nhà và sắp xếp lại các công việc của mình, đó là cách họ nói khi khuyên bệnh nhân chuẩn bị cho cái chết. Điều đó có nghĩa là hãy về và sử dụng mấy tháng còn lại để nói với các con bạn những gì mà bạn dự định sẽ nói với chúng trong khoảng mười năm tới. Điều đó cũng có nghĩa là hãy cố gắng kín đáo để gia đình bạn có thể chấp nhận điều này một cách dễ dàng hơn. Điều đó có nghĩa là bạn hãy nói lời vình biệt.

Tất cả mọi ngày tôi đều sống với sự chẩn đoán đó. Sau đó, vào một buổi tối, tôi tiến hành kiểm tra sinh thiết, họ đút một cái ống qua cổ họng tôi, luồn sâu xuống dạ dày, sâu xuống ruột, ấn một cái kim vào tuyến tụy của tôi để lấy mẫu một số tế bào của khối u. Khi đó, tôi rất bình thản, nhưng vợ tôi, người có mặt lúc đó đã kể với tôi rằng khi các bác sỹ phân tích những tế bào đó dưới kính hiển vi, họ đã reo lên khi phát hiện ra rằng đây là một trường hợp ung thư tuyến tụy hiếm hoi có thể chữa được bằng cách phẫu thuật. Tôi đã được phẫu thuật và bây giờ tôi đã khỏe lại.

Đó là cảm giác mà tôi đã có khi phải đối mặt với cái chết và tôi cũng hy vọng tôi sẽ còn cái cảm giác đó một vài thập kỹ nữa. Khi đã từng trải qua điều đó, tôi có thể nói với các bạn một cách chắn chắn hơn là chỉ đơn thuần nhắc đến cái chết như là một điều hữu ích nhưng chỉ hoàn toàn là một nội dung mang tính trí tuệ mà thôi.

Không ai muốn chết. Thâm chí những người muốn được lên thiên đàng cũng không muốn chết chỉ vì muốn được lên đó. Và cái chết là cái đích mà tất cả chúng ta đều phải đến, không ai trong chúng ta thoát khỏi nó. Và đó là cách mà nó phải diễn ra bởi lẽ cái chết chính là sáng tạo tuyệt vời nhất của cuộc sống. Đó chính là tác nhân thay đổi cuộc sống. Nó loại đi những người già để mở đường cho những người trẻ. Ngay lúc này, các bạn đang là những người trẻ tuổi, nhưng sẽ không lâu nữa, khi các bạn tốt nghiệp, rồi trở nên già đi, và sẽ bị loại bỏ.

Tôi xin lỗi vì có vẻ như tôi hơi xúc động nhưng điều đó là sự thật.

Thời gian của các bạn là có hạn, vì thế đứng lãng phí để sống cho một cuộc đời ai đó. Đừng nhốt mình trong những tín điều nào đó, sống như vậy là sống bằng suy nghĩ của những người khác. Đừng để quan điểm của những người khác làm mờ nhạt đi quan điểm của chính bản thân bạn.

S.T

Điều quan trọng nhất là bạn hãy dũng cảm đi theo sự mách bảo của trái tim và trực giác của mình. Bằng cách nào đó, chúng biết rõ bạn thực sự muốn trở thành cái gì. Những điều khác chỉ là thứ yếu.

Khi tôi còn trẻ, có một cuốn sách kỳ lạ được xuất bản với cái tên Cẩm nang toàn thế giới, cuốn sách này giống như kinh thánh của thế hệ chúng tôi. Người sáng tạo ra cuốn sách này là Steward Brand, một nghiên cứu sinh ở Menlo Park, cách đây không xa. Anh ta đã tạo ra nó bằng cảm giác đầy tính thi sỹ của mình. Thời điểm đó là vào cuối thập kỷ 60, trước khi có máy tính cá nhân và máy tính sách tay. Tất cả cuốn sách được đánh bằng máy chữ, cắt bằng kéo và bằng máy ảnh. Nó giống như trang Google trên giấy vậy, 35 năm trước khi có trang Google. Nó thực sự mang tính duy tâm, được tạo ra từ những công cụ tinh xảo và những ý tưởng vĩ đại.

Steward và các đồng sự của ông đã xuất bản một số tập của Cẩm nang toàn thế giới và sau đó, họ xuất bản tập cuối cùng. Thời gian đó vào khoảng giữa những năm 70 và tôi chỉ bằng tuổi các bạn bây giờ. Ở trang bìa sau của cuốn sách có in ảnh một con đường vùng nông thôn trong ánh bình minh, điều mà bạn có thể tìm thấy sự an bình nếu bạn là người ưa mạo hiểm. Bên dưới tấm ảnh có dòng chữ: “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ“ Đó là lời tạm biệt của họ khi kết thúc cuốn sách. “Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ” Và tôi luôn cầu chúc điều đó cho chính mình. Ngày hôm nay, các bạn đã tốt nghiệp và chuẩn bị bước vào con đường mới, tôi cầu chúc điều đó cho các bạn.
Hãy luôn khao khát. Hãy cứ dại khờ.

Cảm ơn các bạn rất nhiều.






Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo công ty đã từng nói rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Vậy để thành công trong cuộc thử nghiệm này, nhà quản lý cần chuẩn bị cho mình những gì?

Công việc quản lý thật nhiều thú vị, đồng thời cũng là một quá trình khó khăn gian khổ. Mọi người thường hay nhắc đến thuật ngữ “nhà quản lý bẩm sinh” khi nói về thành công của một số nhà quản lý. Sự thật không hẳn như vậy. Nhà quản lý giỏi có thể là bất cứ ai, ở bất cứ đâu khi anh ta hội đủ các phẩm chất cần thiết. Chỉ nhìn vào những nhà quản lý thành đạt tại các công ty, chúng ta có thể thấy được những phẩm chất của họ khác biệt thật là xa so với những trưởng phòng hay giám sát viên đơn thuần. Một cuộc nghiên cứu của tạp chí Nihon Keizai, Nhật Bản, đã đúc kết được 6 phẩm chất có quan trọng nhất ở tất cả các nhà quản lý thành công:

1. Phẩm chất của một vị tướng giỏi

Khi xông pha trận mạc, một người cầm quân “trăm trận trăm thắng” phải là người biết điều binh khiển tướng, thông tuệ binh sách, mưu lược... Nhà quản lý cũng cần phẩm chất như vậy với sự hiểu biết cặn kẽ về một loại hình hoạt động đặc biệt nào đó, nhất là loại hình hoạt động có liên quan đến các phương pháp, các chu trình, các thủ tục hay các kỹ thuật trong công ty. Trong số các phẩm chất của một nhà quản lý, phẩm chất kỹ thuật là yếu tố được nhắc đến nhiều nhất, và trong thời đại chuyên môn hoá ngày nay, phẩm chất này càng được chú trọng. Hầu hết các chương trình đào tạo quản lý chủ yếu hướng đến việc phát triển kỹ thuật chuyên môn quản lý.

Một vị tướng giỏi còn là một người biết đưa ra những quyết định chuẩn xác nhất trong thời gian ngắn nhất. Trong quản lý kinh doanh hiện đại, người ta không xây dựng chiến lược như trước đây, bởi các chiến lược tốt nhất cũng sẽ trở nên không còn phù hợp nếu việc xác định mất quá nhiều thời gian. Nhưng làm sao để có được cách lựa chọn nhanh nhạy và thực sự tranh thủ được thời gian? Điều này tuỳ thuộc vào khả năng của các nhà quản lý có thể ra quyết định chớp nhoáng như một vị tướng quân sự tài ba hay không.


Các vị tướng thường dựa vào những cố vấn quân sự của mình, còn các nhà quản lý cũng phải dựa vào những chuyên viên tư vấn để ra quyết định. Đa số các nhà quản lý ra quyết định nhanh nhạy thường lấy ý kiến ở hai cấp độ- một là, của tất cả các cộng sự, hai là, của các nhà tư vấn có kinh nghiệm nhất. Trong khi đó, những nhà quản lý quyết định chậm thường không giao cho ai giữ vai trò tư vấn. Họ ít có các quan hệ gần gũi và nghe ý kiến của người khác. Hoặc giả họ có tranh thủ ý kiến thì chỉ là tình cờ. Ở đây, chính các nhà tư vấn mới là người đẩy nhanh quá trình ra quyết định. Họ không chỉ đóng góp năng lực từng trải của mình, mà còn phát huy các quan hệ cộng tác gần gũi, tăng thêm sự tự tin của người ra quyết định. Trước những tình hình chưa rõ ràng và chắc chắn, sự bàn bạc với những chuyên viên tư vấn nhiều kinh nghiệm sẽ giúp cho các nhà quản lý có thêm lòng can đảm và tự tin trong việc đưa ra những quyết định chuẩn xác.

2. Phẩm chất của một người chủ gia đình mẫu mực

Gần đây, người ta hay nói nhiều đến văn hoá công ty và muốn biết ai là người tạo dựng nên nó. Câu trả lời là tất cả các thành viên trong công ty. Nhưng ai là người khơi dậy, nuôi dưỡng và định hướng, phát huy văn hóa đó để tạo thành một bản sắc riêng của công ty? Câu trả lời là nhà quản lý trên cương vị một người “chủ gia đình” mẫu mực.

Trong gia đình, vai trò của người cha là hết sức quan trọng, một người cha mẫu mực không chỉ là khuôn hình mẫu, là người thầy, là trọng tài mà còn cao hơn còn phải biết là người bạn gần gũi, cởi mở cảm thông và biết chia sẻ với mọi thành viên trong gia đình, theo đúng nghĩa một người bạn. Làm được như vậy, gia đình- công ty sẽ là một thể hữu cơ, gắn kết chặt chẽ với nhau, mọi thành viên đều có cơ hội bày tỏ chính mình, cơ hội để phát huy sự sáng tạo cá nhân của mình đóng góp cho cái chung. Rustomiji, một doanh nhân lớn của Nhật Bản đã nói “Đây là hãng của tôi. Đây là nhà máy của tôi. Đây là nơi nuôi sống tôi. Bạn sẽ giống người trúng xổ số độc đắc nếu những người lao động của bạn có ý thức giống như câu nói trên”.

Về mặt tâm lý, nhân viên trong công ty chỉ tuân phục nếu được người quản lý tôn trọng danh dự và bảo đảm quyền lợi cho họ, vì thế, nhà quản lý phải tránh bớt các mệnh lệnh độc tài, nên mềm mỏng mà kiên quyết. Đó chính là phẩm chất của người chủ gia đình mẫu mực.

Nếu phẩm chất “vị tướng giỏi” trước hết đề cập đến chuyện làm việc với các khái niệm, các chu trình hay đối tượng vật chất, thì phẩm chất “người chủ gia đình” đề cập đến khía cạnh con người. Nhà quản lý có phẩm chất “người chủ gia đình” là người có đủ nhạy cảm đối với những nhu cầu và động cơ của các nhân viên trong công ty đến mức có thể dự đoán và đánh giá được những phản ứng từ phía các nhân viên cùng những hậu quả từ cách hành động mà nhà quản lý đã, đang hay sẽ thực thi. Như vậy, nhà quản lý luôn tính đến nhận thức và thái độ của những người khác.

3. Phẩm chất của một thuyền trưởng bản lĩnh

Đại dương mênh mông luôn ẩn chứa trong đó bao mối nguy hiểm. Kinh doanh trên thương trường cũng vậy và công ty luôn phải đối phó với sự cạnh tranh khắc nghiệt từ mọi phía. Nhà quản lý ngoài kiến thức chuyên môn, kỹ năng quản trị còn rất đến bản lĩnh của một thuyền trưởng kinh nghiệm biết chèo lái con thuyền công ty đi đúng luồng lạch, vượt qua khó khăn để cập bến an toàn. Khi đó, nhà quản lý không chỉ là người chỉ huy, lãnh đạo mà còn là chỗ dựa, là nơi gửi gắm niềm tin của thuỷ thủ đoàn trên con thuyền công ty.

Phẩm chất “thuyền trưởng bản lĩnh” bao gồm khả năng bao quát tình hình công ty như một thể thống nhất, bao gồm việc đánh giá tầm quan trọng của các bộ phận, mức độ phụ thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau trong trường hợp xảy ra sự thay đổi trong một bộ phận bất kỳ. Phẩm chất này cũng mở rộng đến mối quan hệ giữa công ty với toàn lĩnh vực mà công ty đang hoạt động, từ đó nhà quản lý có thể phát hiện nhanh chóng những diễn biến bất thường của môi trường ngoại cảnh để kịp thời đối phó và điều chỉnh hành động theo hướng có lợi nhất cho công ty. Vì thế sự thành công của bất cứ quyết định nào đều phụ thuộc vào kỹ năng nhận thức và chèo lái của nhà quản lý, chưa kể toàn bộ các quyết định mang bản sắc của công ty cũng phụ thuộc vào phẩm chất này.

Từ lâu nay, các thuyền trưởng luôn được xem như những con người lịch thiệp. Với nhà quản lý cũng vậy, sự lịch thiệp sẽ góp phần nâng cao lòng kính trọng của các nhân viên đối với cấp trên của mình. Những mệnh lệnh được đưa ra trong công ty dưới dạng lịch thiệp, thường dẫn đến kết quả tốt hơn là mệnh lệnh không tôn trọng người khác. Các nhà quản lý nên tạo ra cho mình thói quen bắt đầu trước trong giao tiếp, tỏ ra thân ái, niềm nở và nhìn mọi người bằng con mắt thân thiện.

4. Phẩm chất của một vận động viên tự tin và giàu nghị lực

Đó chính là ý chí và có khát vọng vươn lên. Lúc Donald Trump, nhà tỷ phú bất động sản còn trai trẻ, ông đã khóc trước tượng của Alexandre đặt trong đền Heraile ở Gades, vì thấy mình không được lừng danh như Alexandre. Thật ra không cần phải như vậy. Nhà quản lý không nên háo danh, nhưng phải mang trong mình khát vọng vươn lên.

Phẩm chất vận động viên của nhà quản lý còn thể hiện ở niềm tin vào khả năng, dũng cảm, có chí hướng và biết thể hiện phẩm chất với các nhân viên dưới quyền. Trong công ty, nhà quản lý thành công là người luôn đi thẳng, ngẩng cao đầu, bước chững chạc tạo thói quen tự tin. Niềm tin vào bản thân là phẩm chất rất cần thiết đối với người nhà quản lý.

Niềm tin mạnh mẽ, dũng cảm luôn đi liền với khái niệm bình tĩnh của nhà quản lý. Họ luôn tự chủ được thần kinh của mình và duy trì sự bình tĩnh khi phải đối mặt với nhiều thách thức trong các cuộc thi đấu đầy gian khó.

5. Phẩm chất của một huấn luyện viên có năng lực

Vấn đề phổ biến nhất ở các công ty là nhân viên không làm việc hiệu quả như ý của nhà quản lý, đặc biệt là những nhân viên giỏi về mặt chuyên môn nhưng lại thiếu kỹ năng giao tiếp. Để giải quyết vấn đề này, các nhà quản lý cần thể hiện phẩm chất của một huấn luyện viên biết cách dàn xếp, giải quyết sao cho có thể phát huy hết năng lực của các tuyển thủ mà mình huấn luyện. Nhà quản lý hãy kiên nhẫn và sắp xếp cuộc họp với những nhân viên đó. Hãy đảm bảo rằng vào cuối buổi bàn thảo, nhân viên sẽ biết chắc là có tồn tại vấn đề khúc mắc, đồng thời hiểu được cần làm gì để giải quyết vấn đề.

Sẽ tốt hơn cả nếu đưa người đó vào một cuộc nói chuyện như trong một cuộc phỏng vấn. Một câu hỏi mở đơn giản như: “Bạn thấy việc tiếp xúc với những người khác trong công việc của bạn như thế nào?” có thể đem lại câu trả lời cụ thể và xác định giúp nhân viên nhận thức được vấn đề tồn tại. Mọi người thường dễ chấp nhận hơn nếu như nhà quản lý thấu hiểu những khó khăn của họ. Ví dụ như, nếu nhà quản lý nói: “Tôi biết là rất khó để có thể quản lý con người, chắc chắn là tôi cũng mắc rất nhiều lỗi khi tôi mới bắt đầu”, thì sẽ dễ dàng hơn nhiều cho người khác khi thừa nhận điểm yếu của họ.

6. Phẩm chất của một nhà lãnh đạo thực thụ

Gari Selfridje, chuyên gia uy tín trong lĩnh vực quản lý, đã từng nói, nhà quản lý phải “lãnh đạo” chứ không chỉ đơn thuần làm công việc điều hành, nghĩa là nhà quản lý cần giữ vai trò hướng dẫn, lựa chọn mục tiêu, xác lập tầm nhìn, dẫn dắt và tạo động lực cho công ty phát triển.

Một nhà lãnh đạo thực thụ không bao giờ sợ những lời phê bình. Nhà quản lý cũng vậy, nếu sợ phê bình thì không phải là nhà quản lý nữa. Trong nghệ thuật quản lý cũng như nghệ thuật lãnh đạo, phê bình là rất cần thiết nhưng phê bình cần mang tính xây dựng nhằm sửa chữa khuyết điểm bằng hành động.

Từ chỗ biết phê bình một cách hợp lý, nhà quản lý cần biết thưởng phạt công mình. Nếu biết nhân viên nào đó xứng đáng được khen thì hãy khen anh ta dù chỉ một chút thôi. Còn việc phạt phải mang tính xây dựng, không nên mắng mỏ khi cảnh cáo người dưới quyền. Cảnh cáo nên bắt đầu từ khen ngợi, sau đó cho họ biết khuyết điểm của họ, nhưng việc này chỉ nên thực hiện sao cho các nhân viên khác không biết được. Cảnh cáo trước đông đảo nhân viên trong công ty được coi là mức phạt cao nhất, chỉ áp dụng trong những trường hợp đặc biệt khi các biện pháp khác không mang lại hiệu quả.

Sau cùng, với phẩm chất của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhà quản lý bao giờ cũng phải có uy quyền, có nghệ thuật dẫn dụ, có lý luận sắc bén và …nghệ thuật thôi miên. Dẫn dụ là dựa vào tình cảm làm cho cấp dưới ham lợi ích phải nghe theo mình, còn lý luận là đem lý lẽ và chính kiến khiến các nhân viên nể phục những lý lẽ đó rồi làm theo. Còn thôi miên lôi kéo người khác thực hiện theo ảnh hưởng của người thôi miên. Uy quyền là một ma lực bắt người khác tuân phục. Mỗi nhà quản lý đều có thể có uy quyền. Một trong những yếu tố cấu thành uy quyền của người quản lý là lòng thán phục của cấp dưới.

Có thể nói, 6 phẩm chất trên có mối liên quan mật thiết với nhau đến mức khó mà xác định được đâu là ranh giới rõ ràng. Tầm quan trọng tương đối của từng phẩm chất thay đổi tuỳ theo những cấp trách nhiệm khác nhau. Tại các cấp thấp hơn, phẩm chất “vị tướng giỏi” là yếu tố tạo ra nhiều điểm ưu việt trong các công việc thiên về chuyên môn kỹ thuật. Tuy nhiên, khi nhà quản lý tiến dần lên ngày càng cao hơn yêu cầu về phẩm chất này trở nên ít quan trọng hơn, mà thay thế vào đó là phẩm chất người chủ gia đình hay phẩm chất nhà lãnh đạo…

Phương pháp quản lý theo 6 phẩm chất này nhấn mạnh rằng, những nhà quản lý giỏi có thể được phát triển và mài giũa mà thành. Nhận thức rõ ràng về những phẩm chất này và về những phương pháp đo lường trình độ của các nhà quản lý sẽ là công cụ hiệu quả để các nhà lãnh đạo cấp cao chọn lựa, đào tạo và đề bạt các cán bộ quản lý ở tất cả các cấp trong công ty.

Thanh Bình (Business World Portal) - Tổng hợp từ Nihon Keizai và Tokyo Times

Tác giả: Nguyễn Quốc Vương
Đề án đổi mới căn bản toàn diện giáo dục đang được thảo luận sôi nổi, trong đó có ý kiến bàn luận về “triết lý giáo dục” - vấn đề trọng tâm cần phải nhìn nhận cho thấu đáo trước khi định ra phương án và tiến hành cải cách giáo dục.

Đang nghiên cứu về giáo dục lịch sử tại Đại học Kanazawa, Nhật Bản và là người từng dịch cuốn "Cải cách giáo dục Nhật Bản", tôi xin phác thảo triết lý giáo dục Nhật Bản cận - hiện đại để giúp bạn đọc có thêm thông tin tham chiếu, suy ngẫm.

Nói về triết lý giáo dục sẽ có nhiều cách hiểu nhưng tôi cho rằng, xét ở nghĩa hẹp nó là câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi: “Giáo dục định tạo ra con người như thế nào?”

Nhìn một cách tổng quát, giáo dục Nhật Bản cận - hiện đại được bắt đầu từ thời Minh Trị (1868-1912). Vào cuối thời Mạc phủ Edo, đứng trước áp lực ngày một lớn của các nước đế quốc phương Tây, lực lượng võ sĩ bậc thấp, cùng các trí thức Tây học của Nhật Bản đã liên kết với thế lực quý tộc ủng hộ Thiên hoàng tiến hành đảo Mạc thành công. Chính phủ Minh Trị dựa vào tầng lớp trí thức mới đã tiến hành cải cách mạnh mẽ giáo dục nhằm nhanh chóng cận đại hóa đất nước theo mô hình phương Tây.

Nền giáo dục Nhật Bản trong 10 năm đầu thời Minh Trị đã du nhập mạnh mẽ các trào lưu tư tưởng cùng thành tựu khoa học kỹ thuật phương Tây nhằm đạt cho được mục tiêu “phú quốc cường binh”. Trong giai đoạn này và cả giai đoạn sau trong thời Taisho (1912-1926), cho dù trào lưu dân chủ xâm nhập mạnh mẽ, xét ở góc độ văn bản cả phía chính phủ và giới làm giáo dục Nhật chưa hề ý thức sâu sắc “triết lý giáo dục”. Các cụm từ “triết lý giáo dục” cũng không xuất hiện trong các văn bản pháp luật liên quan tới giáo dục.

Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các nhà nghiên cứu người Nhật cho rằng, trừ khoảng 10 năm đầu thời Minh Trị khi giáo dục còn mang tính chất khai sáng, giáo dục Nhật Bản trước 1945 chịu sự chi phối của triết lý được thể hiện trong “Sắc chỉ giáo dục”, một “thánh chỉ” của Thiên hoàng Minh Trị ban hành năm 1879. “Thánh chỉ” này nêu ra những nội dung đạo đức mang màu sắc Nho giáo mà nền giáo dục Nhật Bản phải hướng tới và yêu cầu nền giáo dục phải đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” hết lòng phụng sự Thiên hoàng.

Sau ngày 15/8/1945, Nhật Bản bị đặt dưới sự chiếm đóng của quân đội đồng minh. Dưới sự kiểm soát nghiêm ngặt của Bộ tổng tư lệnh quân Đồng minh (GHQ), Nhật Bản đã tiến hành một cuộc cải cách toàn diện nhằm dân chủ hóa và phi quân sự hóa đất nước. Công cuộc cải cách giáo dục thời hậu chiến (1945-1950) được xúc tiến với sự hợp tác của ba lực lượng: các nhà giáo dục Nhật Bản, các viên chức phụ trách giáo dục và thành viên Sứ đoàn giáo dục đến từ Mỹ. Cuộc cải cách giáo dục này được tiến hành toàn diện từ hệ thống trường học, tài chính giáo dục, cơ cấu tổ chức bộ giáo dục, hệ thống hành chính giáo dục địa phương cho tới khóa trình giáo dục… Thay đổi lớn nhất và trước hết là thay đổi về triết lý giáo dục.

Triết lý của nền giáo dục mới, nền giáo dục mà sau này người Nhật quen gọi là giáo dục dân chủ, được xây dựng dựa trên sự phản tỉnh sâu sắc về nền giáo dục trước chiến tranh và tiếp thu tinh hoa giáo dục Mỹ. Mục tiêu giáo dục giờ đây không phải là đào tạo nên những “thần dân trung quân ái quốc” mà là người công dân có đủ tri thức, phẩm chất, năng lực phù hợp với xã hội hòa bình, dân chủ và tôn trọng nhân quyền. Triết lý giáo dục này được ghi rõ trong các bộ luật luật về giáo dục được công bố trong năm 1947 như: Luật giáo dục cơ bản, Luật giáo dục trường học…

Triết lý giáo dục nói trên đã chi phối và chỉ đạo toàn bộ nội dung, phương pháp và cách thức tổ chức bộ máy hành chính giáo dục Nhật Bản. Hệ thống trường học được đơn giản hóa theo một hệ thống thống nhất với chế độ 6-3-3-4 (6 năm tiểu học, 3 năm THCS, 3 năm THPT và 4 năm đại học). Quyền lực của bộ giáo dục bị giới hạn và quyền tự trị được trao trả cho các trường học. Hệ thống hành chính giáo dục tách rời khỏi hệ thống hành chính chung và Ủy ban giáo dục - cơ quan được tổ chức từ ba thành phần giáo viên, viên chức hành chính và người dân quan tâm tới giáo dục trở thành cơ quan nắm quyền hành chính giáo dục ở địa phương.

Bộ Giáo dục Nhật cũng chuyển từ chế độ “Sách giáo khoa quốc định” sang “chế độ sách giáo khoa kiểm định” và công nhận quyền tự do trong thực tiễn giáo dục của giáo viên. Trong khóa trình giáo dục, môn Nghiên cứu xã hội (Social Studies), một môn học hoàn toàn mới có nguồn gốc từ Mỹ, được đưa vào cả ba cấp học phổ thông.

Về phương pháp giáo dục cũng có sự thay đổi lớn. Nếu như trước 1945, các giờ học diễn ra theo hình thức giáo viên truyền thụ tri thức cho học sinh thì giờ đây lý luận “học sinh là trung tâm” được nhấn mạnh. Độc lập trong tư duy và tự do trong tinh thần trở thành những phẩm chất của người học sinh mơ ước.

Trong cuộc cải cách giáo dục toàn diện nói trên, nghiên cứu Xã hội, môn học tích hợp Lịch sử, Địa lý, Công dân trở thành nơi Bộ giáo dục và các nhà cải cách đặt nhiều kỳ vọng. Trong vai trò là môn học góp phần chủ yếu trong công cuộc tái khai sáng quốc dân, Nghiên cứu Xã hội đã thể hiện tập trung và cụ thể triết lý của nền giáo dục mới. Văn bản chỉ đạo mang tên “Hướng dẫn học tập môn Xã hội” năm 1947 của Bộ giáo dục Nhật Bản nhấn mạnh: “nếu như biết duy trì sự độc lập của bản thân, biết hưởng thụ cuộc sống thực sự là người… thì có thể lý giải được mối quan hệ cùng tồn tại với cuộc sống của người khác và có thể có được ý chí mãnh liệt muốn làm cho cuộc sống của mình trở nên tốt đẹp hơn.

Mục tiêu của môn học giờ đây là những công dân có tư duy độc lập, có tinh thần phê phán. Đó là những “con người không bị đánh lừa bởi đám đông thời thế”, “con người không bị mê hoặc bởi sự tuyên truyền dối trá”. Những con người ấy “không những không xâm phạm người khác mà còn chủ động mở rộng một cách tích cực những điều mình nghĩ tốt đẹp ra xung quanh”.

Để đạt được mục tiêu giáo dục nói trên, nội dung và phương pháp giáo dục môn Nghiên cứu Xã hội được nghiên cứu rất kỹ. Nội dung và phương pháp giáo dục này nhấn mạnh tính chủ thể của học sinh, coi trọng trải nghiệm trong cuộc sống của học sinh và đặt trọng tâm vào học tập giải quyết các vấn đề thiết thực đối với các em. Trong “học tập giải quyết vấn đề” này sự “nhồi nhét” tri thức, “truyền đạt tri thức” bị loại trừ.

Ở đó, học sinh không tiếp nhận thụ động, vô điều kiện các tri thức mà giáo viên đưa ra, coi nó là chân lý tuyệt đối mà học sinh dưới sự trợ giúp, hướng dẫn của giáo viên sẽ phải tìm kiếm các tri thức từ nhiều nguồn khác nhau và biến nó thành tư duy của mình. Có thể nói giáo dục môn Nghiên cứu Xã hội trong giai đoạn này đã chuyển từ “truyền đạt tri thức” sang hình thành và phát triển năng lực nhận thức khoa học cho học sinh.

Như vậy, có thể thấy, ở trường hợp Nhật Bản, cải cách giáo dục giống như một cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình. Ở đó, triết lý giáo dục được bàn đến và minh định trước tiên. Triết lý giáo dục này đã chi phối toàn bộ nội dung, phương pháp giáo dục cũng như cách thức tồn tại của nền giáo dục mới và có mối quan hệ rất mật thiết với hiến pháp cũng như các bộ luật về giáo dục.

Nhờ hai cuộc cách mạng xã hội trong hòa bình nói trên Nhật Bản đã hai lần “thoát hiểm”. Lần thứ nhất là thoát khỏi móng vuốt của thực dân phương Tây và lần thứ hai là vượt thoát ra khỏi chính những sai lầm của mình để trở thành một nước hòa bình, dân chủ, văn minh.

Nguyễn Quốc Vương

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.